Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình Đổi mới và thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam từng bước được mở rộng theo chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế. Việc Nhà nước cho phép các đơn vị trực tiếp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu đã tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế. Bối cảnh kinh tế khu vực cuối thập niên 1990 vừa trải qua cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ, để lại nhiều tác động phức tạp đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trong nước. Đồng thời, sự ra đời của Nghị định số 57/CP ngày 31/7/1998 đã mở rộng quyền xuất nhập khẩu trực tiếp cho mọi thành phần kinh tế, làm suy giảm mạnh vai trò của phương thức kinh doanh xuất khẩu ủy thác truyền thống.

Đối với Công ty Xuất nhập khẩu tổng hợp I (GENERALEXIM - HA NOI), mặt hàng may mặc luôn giữ vị trí chủ lực trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu và có triển vọng lớn trong kế hoạch phát triển dài hạn. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu may mặc của công ty đang đứng trước nhiều thách thức: phần lớn kim ngạch dựa vào hình thức gia công có giá trị gia tăng thấp, đơn hàng phụ thuộc vào đối tác nước ngoài và phương thức xuất khẩu uỷ thác bị thu hẹp đáng kể. Để nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm sự tăng trưởng bền vững, việc hoàn thiện công tác kế hoạch kinh doanh và tìm kiếm các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu may mặc trở thành yêu cầu cấp thiết.

Đề tài tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp và vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng may mặc trong nền kinh tế thị trường.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất, xuất khẩu hàng may mặc và công tác kế hoạch hóa kinh doanh tại Công ty Xuất nhập khẩu tổng hợp I giai đoạn 1982–2002.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng may mặc gắn với công tác kế hoạch kinh doanh của công ty trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu hàng may mặc và công tác lập, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh.
  • Phạm vi không gian: Công ty Xuất nhập khẩu tổng hợp I (trụ sở tại số 46 Ngô Quyền, Hà Nội), tập trung vào các phòng nghiệp vụ xuất nhập khẩu may mặc (Phòng nghiệp vụ 3, Phòng nghiệp vụ 6) và cơ sở sản xuất trực thuộc là Xí nghiệp may Đoan Xá (Hải Phòng).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu khảo sát và phân tích thực tiễn từ khi thành lập doanh nghiệp (1981–1982) đến năm 2002, trọng tâm là giai đoạn 1995–2002.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các phạm trù lý luận quản trị kinh doanh và kinh tế ngoại thương:

  • Lý luận về kế hoạch hóa kinh doanh: Nghiên cứu phân biệt bản chất giữa cơ chế kế hoạch hóa tập trung pháp lệnh (mang tính mệnh lệnh, cấp phát, giao nộp, thoát ly thị trường) và cơ chế kế hoạch hóa định hướng trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Kế hoạch hóa được định nghĩa là hoạt động chủ quan, có ý thức, có tổ chức của con người nhằm xác định mục tiêu, phương án, bước đi, trình tự và cách thức tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.
  • Chu trình quản lý và quy trình lập kế hoạch: Kế hoạch hóa được định vị là chức năng đầu tiên trong chu trình quản lý (Lập kế hoạch $\rightarrow$ Tổ chức các nguồn lực $\rightarrow$ Kiểm tra và điều chỉnh). Quy trình kế hoạch hóa doanh nghiệp trải qua 7 bước: Xác định lĩnh vực hoạt động, Xây dựng hệ thống giá trị, Xác định nhiệm vụ, Lập kế hoạch chiến lược, Chương trình hóa chiến lược, Lập kế hoạch tác nghiệp và ngân sách, Đánh giá và điều chỉnh.
  • Hệ thống phân loại và chỉ tiêu kế hoạch: Phân loại kế hoạch theo phạm vi (chiến lược, tác nghiệp), theo thời gian (dài hạn 5–10 năm, trung hạn 3–5 năm, ngắn hạn 1 năm) và theo mức độ cụ thể (cụ thể, định hướng). Hệ thống chỉ tiêu được phân định theo hình thái biểu hiện (hiện vật, giá trị), theo đặc tính biểu hiện (số lượng, chất lượng), theo đại lượng đo lường (tuyệt đối, tương đối) và theo chức năng sử dụng (phê chuẩn, tính toán).
  • Lý luận về hoạt động xuất khẩu hàng may mặc: Hoạt động xuất nhập khẩu phản ánh sự phân công lao động quốc tế, khai thác lợi thế so sánh và mở rộng khả năng tiêu dùng của quốc gia. Các phương thức xuất khẩu chủ yếu gồm: xuất khẩu ủy thác, gia công xuất khẩu và xuất khẩu trực tiếp (bán FOB).

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng:

  • Phương pháp thống kê kinh tế: Thu thập, tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ của doanh nghiệp và ngành thương mại.
  • Phương pháp phân tích - so sánh: So sánh chuỗi số liệu theo số tuyệt đối và số tương đối qua các năm để phân tích biến động kim ngạch, tỷ trọng phương thức kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận và chi phí.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tham khảo các giáo trình chuyên ngành như Giáo trình Chiến lược và kế hoạch phát triển doanh nghiệp, Giáo trình Kinh tế Ngoại thương (GS. Bùi Xuân Lưu, NXB Giáo dục, 2002), tài liệu của Bộ Thương mại và Thời báo Kinh tế.

Nguồn dữ liệu:

  • Báo cáo tài chính và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 1982–2002 do Phòng Kế toán, Phòng Tổng hợp và Phòng Nghiệp vụ 3 Công ty Xuất nhập khẩu tổng hợp I cung cấp.
  • Báo cáo tổng kết 20 năm hình thành và phát triển của Công ty Xuất nhập khẩu tổng hợp I.
  • Số liệu thống kê xuất khẩu ngành dệt may của Bộ Thương mại và các công bố kinh tế giai đoạn 1991–2002.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Lý luận chung về công tác kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp và hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam

Chương I tập trung luận giải cơ sở khoa học của công tác kế hoạch hóa trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và đánh giá tổng quan vị thế ngành may mặc Việt Nam:

  • Vai trò của kế hoạch trong nền kinh tế thị trường: Khẳng định kế hoạch kinh doanh là công cụ định hướng, giảm thiểu bất trắc, phối hợp các nỗ lực nội bộ, sử dụng hiệu quả nguồn lực và thiết lập tiêu chuẩn cho công tác kiểm tra, kiểm soát.
  • Tiềm năng và vị thế của ngành may mặc Việt Nam: Ngành dệt may có lợi thế quay vòng vốn nhanh, vốn đầu tư ban đầu không quá lớn và sử dụng nhiều lao động. Đến năm 2002, dệt may đã vươn lên vị trí số một trong 15 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước, chiếm khoảng 14,5% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc.
Năm Kim ngạch xuất khẩu dệt may (Triệu USD) Tốc độ tăng trưởng (%)
1991 143 -
1992 220 53,85
1993 360 63,64
1994 550 52,78
1995 750 36,36
1996 1.750 37,50
  • Phân tích các thị trường xuất khẩu trọng điểm:
    • Thị trường EU: Quy mô 375 triệu dân, yêu cầu cao về hàm lượng thời trang (85–90% giá trị là theo mốt). Kim ngạch xuất khẩu may mặc của Việt Nam vào EU tăng từ 250 triệu USD (1995) lên 450 triệu USD (1999), nhưng có tới 70% hạn ngạch (quota) phải thông qua các trung gian Hồng Kông, Hàn Quốc.
    • Thị trường Nhật Bản: Thị trường phi hạn ngạch, mua bán theo phương thức mua đứt bán đoạn; kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2002 đạt khoảng 600 triệu USD, đứng thứ 7 trong số các nước xuất khẩu may mặc vào Nhật Bản.
    • Thị trường Hoa Kỳ và Bắc Mỹ: Thị trường có mức tiêu thụ lớn (27 kg vải/người/năm), mở ra cơ hội lớn sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ ký kết tháng 7/2000 (hiệu lực tháng 12/2001).
    • Thị trường SNG, Đông Âu và ASEAN: Đánh giá tiềm năng của thị trường truyền thống SNG/Đông Âu và khối thị trường AFTA với lộ trình cắt giảm thuế quan.
  • Đặc điểm của hàng may mặc xuất khẩu Việt Nam: Khoảng 70–80% kim ngạch toàn ngành là gia công xuất khẩu, chỉ mang lại khoảng 300 triệu USD tiền lãi ròng mỗi năm; giá trị gia tăng và hàm lượng chất xám thấp; sản phẩm mang nhãn hiệu Việt Nam trên thị trường quốc tế còn rất hạn chế.

Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng may mặc tại Công ty Xuất nhập khẩu tổng hợp I

Chương II đi sâu khảo sát lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức và thực trạng sản xuất kinh doanh xuất khẩu may mặc của đơn vị:

  • Tổng quan về công ty: Thành lập ngày 15/12/1981 theo Quyết định số 1365-TCCB của Bộ Ngoại thương (hoạt động chính thức từ tháng 3/1982). Ngày 1/8/1983, hợp nhất Công ty Phát triển và Xuất nhập khẩu (Promexim) theo Quyết định số 858/TCCB. Trụ sở đặt tại 46 Ngô Quyền, Hà Nội.
  • Các giai đoạn phát triển và tăng trưởng vốn: Vốn ban đầu năm 1981 chỉ có 913.179 đồng với 50 cán bộ nhân viên; đến cuối năm 1992 vốn đạt 34 tỷ đồng; năm 1997 đạt trên 49 tỷ đồng; đến năm 2002 tổng vốn chủ sở hữu đạt trên 60 tỷ đồng.
  • Cơ cấu tổ chức: Gồm Ban Giám đốc (1 Giám đốc, 3 Phó Giám đốc), 4 phòng chức năng (Tổ chức cán bộ, Tổng hợp, Kế toán tài chính, Hành chính), 8 phòng nghiệp vụ chuyên môn, 2 liên doanh khách sạn, 2 chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh và Hải Phòng, cùng hệ thống xí nghiệp sản xuất (May Đoan Xá, Lắp ráp xe máy Tương Mai, Chế biến gỗ Cầu Diễn, Chế biến quế Gia Lâm).
STT Chỉ tiêu Đơn vị Thực hiện 2001 Thực hiện 2002 So sánh 2002/2001 (%)
1 Doanh thu Tỷ đồng 260,043 273,894 105,00
2 Chi phí Tỷ đồng 250,031 - 104,80
3 Lợi nhuận trước thuế Tỷ đồng 4,195 5,067 104,00
4 Tổng nộp ngân sách Tỷ đồng 52,568 53,818 103,00
5 Quỹ lương Tỷ đồng 5,150 - 102,80
6 Tổng số lao động Người 582 593 101,89
7 Lương bình quân Nghìn đồng/người/tháng 768,287 - 100,89
  • Năng lực sản xuất của Xí nghiệp may Đoan Xá (Hải Phòng): Thành lập năm 1994 với vốn đầu tư 2 tỷ đồng (150 máy, 200 công nhân); năm 1996 đầu tư thêm dây chuyền 500 triệu đồng. Đến năm 2002, xí nghiệp có 400 công nhân, năng lực sản xuất 12.000 sản phẩm/tháng (45.000–60.000 sản phẩm/năm). Năng suất tăng từ 1 sản phẩm/người/ca (1996) lên 1,7 sản phẩm/người/ca (1999). Trang thiết bị gồm 230 máy may 1 kim, 16 máy may 2 kim, 12 máy vắt sổ, 14 thiết bị là hơi, 10 máy thùa khuy, 3 máy cắt, 2 máy đánh bọ và 13 bộ thiết bị chuyên dụng.
  • Đánh giá 3 phương thức xuất khẩu may mặc tại công ty:
    • Xuất khẩu ủy thác: Năm 1992 chiếm 63,3% doanh thu xuất khẩu (1.674.000 USD), đến năm 2002 giảm xuống còn 1.133.810 USD (chiếm 7,9%). Nguyên nhân do quy định tại Nghị định 57/CP tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tự xuất khẩu trực tiếp.
    • Gia công xuất khẩu: Chiếm tỷ trọng cao nhất (70–80% kim ngạch xuất khẩu may mặc). Năm 2000 đạt 9.750.340 USD (68,8%); năm 2002 đạt 12.527.230 USD (81,6%). Lợi nhuận gia công rất thấp; năm 2001 kim ngạch đạt 13,624 triệu USD nhưng lãi chỉ đạt 200 triệu đồng (khoảng 14.000 USD, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu xuất khẩu đạt 0,1%). Đơn giá gia công bị ép mạnh (áo Jacket 3 lớp giảm từ 3,5 USD xuống dưới 1,5 USD).
    • Xuất khẩu trực tiếp (bán FOB): Tỷ trọng còn thấp do thiếu vốn lưu động, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu và hạn chế trong khâu may mẫu, tìm kiếm bạn hàng nước ngoài. Năm 2002, tổng kim ngạch xuất khẩu may mặc của công ty đạt 15,352 triệu USD, chiếm 41,65% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn đơn vị.
  • Đánh giá công tác kế hoạch hóa: Quy trình lập kế hoạch tại Phòng Tổng hợp còn mang tính giản đơn, dựa trên số liệu báo cáo của các phòng nghiệp vụ từ các năm trước để phân bổ chỉ tiêu, chưa tổ chức điều tra, dự báo thị trường quốc tế một cách bài bản.

Chương III: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng may mặc tại công ty xuất nhập khẩu tổng hợp I

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, Chương III đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu hàng may mặc:

  • Chuyển dịch cơ cấu phương thức xuất khẩu: Giảm dần tỷ trọng gia công đơn thuần, chủ động chuẩn bị các điều kiện về tài chính và kỹ thuật để chuyển dần sang phương thức xuất khẩu trực tiếp mua đứt bán đoạn (FOB) và tự thiết kế.
  • Hoàn thiện công tác lập và quản lý kế hoạch kinh doanh: Xây dựng kế hoạch dựa trên nghiên cứu và dự báo cung cầu thị trường dệt may quốc tế, kết hợp linh hoạt giữa kế hoạch chiến lược dài hạn và kế hoạch tác nghiệp hàng năm.
  • Nâng cao năng lực kỹ thuật và sản xuất: Tiếp tục hiện đại hóa thiết bị máy móc tại Xí nghiệp may Đoan Xá, thay thế các thiết bị hết khấu hao, nâng cao chất lượng khâu may mẫu chào hàng để tiếp cận khách hàng FOB.
  • Phát triển nhân lực và mở rộng thị trường: Đào tạo đội ngũ cán bộ kinh doanh ngoại thương am hiểu thị trường Bắc Mỹ, EU, Nhật Bản; nâng cao tay nghề cho công nhân may nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể sau:

  • Tổng hợp hệ thống dữ liệu thực tế về quá trình hình thành, biến động nguồn vốn (từ 913 nghìn đồng năm 1981 lên hơn 60 tỷ đồng năm 2002) và kết quả kinh doanh của Generalexim.
  • Phân tích cơ cấu xuất khẩu may mặc qua 3 phương thức: chỉ rõ sự sụt giảm của xuất khẩu uỷ thác (từ 63,3% năm 1992 xuống 7,9% năm 2002), sự áp đảo của hình thức gia công (trên 81% năm 2002) và tỷ suất lợi nhuận gia công rất thấp (0,1% năm 2001).
  • Chỉ ra các điểm nghẽn trong công tác lập kế hoạch kinh doanh nội bộ: quy trình giao chỉ tiêu thụ động dựa trên số liệu quá khứ, thiếu nghiên cứu thị trường chuyên sâu.
  • Đề xuất định hướng giải pháp mang tính hệ thống nhằm chuyển đổi từ hình thức gia công sang xuất khẩu trực tiếp FOB, gắn kết chặt chẽ giữa kế hoạch hóa doanh nghiệp với công tác đầu tư công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu khảo sát thực tiễn tại doanh nghiệp dừng lại ở mốc năm 2002. Đề tài chủ yếu tiếp cận theo góc độ quản lý thương mại và kế hoạch hóa kinh doanh, chưa phân tích định lượng chi tiết cơ cấu chi phí sản xuất từng mã hàng FOB cụ thể hoặc chuỗi cung ứng nguyên phụ liệu toàn cầu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu tác động của việc bãi bỏ hoàn toàn chế độ hạn ngạch dệt may (Hiệp định Hàng dệt may ATC/WTO) đối với chiến lược xuất khẩu trực tiếp của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam; phân tích bài toán xây dựng chuỗi cung ứng sợi - dệt - nhuộm - may nội địa phục vụ xuất khẩu FOB.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản trị kinh doanh, Thương mại quốc tế; cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng may mặc.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng:
    • Khung lý thuyết và phương pháp phân loại chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp.
    • Chuỗi số liệu thực tế về chuyển dịch phương thức xuất khẩu (uỷ thác, gia công, FOB) của doanh nghiệp nhà nước đầu ngành trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Vị trí của ngành may mặc trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2002 được ghi nhận như thế nào?
Năm 2002, hàng dệt may đã vươn lên vị trí số một trong danh sách 15 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, chiếm tỷ trọng khoảng 14,5% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước với tốc độ tăng trưởng liên tục đạt 20–30%/năm trong gần một thập kỷ trước đó.

2. Kim ngạch và tỷ trọng phương thức xuất khẩu uỷ thác của Generalexim biến động ra sao trong giai đoạn 1992–2002?
Năm 1992, kim ngạch xuất khẩu uỷ thác đạt 1.674.000 USD (chiếm 63,3% tổng kim ngạch xuất khẩu may mặc của công ty). Đến năm 2002, giá trị này giảm xuống còn 1.133.810 USD (chỉ còn chiếm 7,9%) do tác động của Nghị định 57/CP cho phép các đơn vị sản xuất trong nước trực tiếp tham gia xuất khẩu.

3. Vì sao tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động gia công may mặc tại Generalexim năm 2001 lại ở mức thấp (0,1%)?
Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu gia công may mặc của công ty đạt 13,624 triệu USD nhưng lợi nhuận thu về chỉ đạt khoảng 200 triệu đồng (tương đương 14.000 USD, tỷ suất 0,1%). Nguyên nhân là do công ty chủ yếu nhập khẩu nguyên phụ liệu theo chỉ định và thu phí gia công lao động thuần túy, trong khi giá gia công bị ép giảm mạnh do sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước.

4. Năng lực sản xuất và trang thiết bị của Xí nghiệp may Đoan Xá (Hải Phòng) được thống kê như thế nào?
Đến năm 2002, Xí nghiệp may Đoan Xá có khoảng 400 công nhân, năng lực sản xuất đạt 12.000 sản phẩm/tháng (sản lượng hàng năm từ 45.000 đến 60.000 sản phẩm). Hệ thống máy móc gồm 230 máy may 1 kim, 16 máy may 2 kim, 12 máy vắt sổ, 14 thiết bị là hơi, 10 máy thùa khuy, 3 máy cắt, 2 máy đánh bọ và 13 bộ thiết bị chuyên dụng.

5. Nhược điểm chính trong công tác lập kế hoạch kinh doanh tại Công ty Xuất nhập khẩu tổng hợp I là gì?
Công tác lập kế hoạch chủ yếu do Phòng Tổng hợp đảm nhận một cách giản đơn, căn cứ vào báo cáo số liệu lịch sử của các phòng nghiệp vụ để phân bổ chỉ tiêu mà không tổ chức các hoạt động nghiên cứu, điều tra và dự báo biến động thị trường quốc tế một cách chuyên sâu.

Kết luận

Khóa luận đã tổng kết hệ thống lý luận về kế hoạch hóa kinh doanh và phân tích bức tranh thực tiễn về hoạt động xuất khẩu may mặc tại Công ty Xuất nhập khẩu tổng hợp I giai đoạn 1982–2002. Kết quả nghiên cứu làm rõ vai trò chủ lực nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao của phương thức gia công xuất khẩu, đồng thời chỉ ra tính tất yếu phải hoàn thiện công tác kế hoạch hóa để thúc đẩy xuất khẩu trực tiếp FOB. Các giải pháp đề xuất cung cấp luận cứ thực tiễn giúp doanh nghiệp từng bước thích ứng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh ngành may mặc.