CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN DỊCH VỤ QUẢN LÝ TƯỚI TẠI HỆ THỐNG KÊNH TRẠM BƠM NAM SÔNG MÃ 1. Dịch vụ quản lý tưới, vai trò, và lợi ích kinh tế xã hội đối với khai thác CTTL 1. Khái niệm dịch vụ quản lý tưới và khai thác CTTL Theo định nghĩa có hai khái niệm liên quan tới các kết quả hành động và là cốt lõi. Khái niệm đầu tiên là nâng cấp công trình (phần cứng) và quản lý vận hành và bảo dưỡng (phần mềm) trong các hệ thống thủy lợi, chỉ ra các hoạt động được thực hiện, và hai là, cải thiện dịch vụ cung cấp nước, mục tiêu đạt được thông qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực được huy động.
Mặc dù vận hành là một hoạt động sau xây dựng, liên kết chặt chẽ với chất lượng dịch vụ, và do đó cải thiện các nguyên tắc của nó có thể được coi như là một phạm vi xuyên suốt mà quanh nó có các giải pháp về phần cứng và phần mềm khác hỗ trợ, được gọi là khuôn khổ cải thiện theo định hướng vận hành. Tổ chức quản lý, khai thác và bảo vệ hệ thống công trình thủy lợi ở nước ta bao gồm hai loại hình chính là Tổ chức của nhà nước (Doanh nghiệp khai thác công trình thủy lợi, Trung tâm, Ban quản lý thủy nông) và các Tổ chức Hợp tác dùng nước.Các Tổ chức của nhà nước (chủ yếu là loại hình Doanh nghiệp) quản lý, khai thác các công trình đầu mối, kênh chính của hệ thống thủy lợi có quy mô vừa và lớn, vận hành phức tạp. Các công trình còn lại chủ yếu do Tổ chức hợp tác dùng nước quản lý bao gồm các hệ thống công trình có quy mô nhỏ, độc lập hoặc kênh mương và công trình nội đồng thuộc các hệ thống lớn mà công trình đầu mối do các tổ chức nhà nước quản lý. Thực tế cho thấy, việc quản lý khai thác công trình thủy lợi của các Tổ chức hợp tác góp phần quan trọng để duy trì và phát huy hiệu quả của công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác.
Trong thời gian qua, các Tổ chức hợp tác dùng nước trong phạm vi toàn quốc đã được các cấp, các ngành và nhiều địa phương củng cố, kiện toàn tạo điều kiện phát huy vai trò của người 2 dân tham gia quản lý công trình thủy lợi theo chủ trương xã hội hóa công tác thủy lợi của Đảng và Nhà nước. Vai trò và lợi ích kinh tế xã hội của dịch vụ quản lý tưới Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam đã khẳng định “nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển của bền vững của đất nước .” và “tổ chức cá nhân được quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho đời sống và sản xuất, đồng thời có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước …” Tại diễn đàn nước thế giới lần thứ III tổ chức tại Nhật bản năm 2003, trong tuyên bố đã đề cập “nước là nhân tố thiết yếu cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn nhằm cải thiện an ninh lương thực và xoá nghèo. Nước tiếp tục giữ nhiều vai trò quan trọng, chẳng hạn trong sản xuất lương thực, tăng trưởng kinh tế và đảm bảo bền vững môi trường”. Ở Việt Nam, nước cùng với các biện pháp nông nghiệp khác đã làm tăng năng suất, tăng sản lượng, tăng vụ nên mặc dù dân số tăng nhanh, diện tích bình quân đất đai canh tác giảm (2548 m 2 /người năm 1930 xuống còn 730 m2 /người năm 1990), nhưng lương thực bình quân đầu người vẫn tăng từ 444,9 kg/người (năm 2000) lên 482,5 kg/người (năm 2005) và tỷ lệ thiếu đói cũng giảm mạnh.
Bảng 1: Tỷ lệ giảm đói (%) trên tổng số dân Năm 1990 -1992 Năm 1995 Năm 2002 -2004 31%/67,5 23%/74 16%/82,481 Theo chuyên viên nông học Sandria Postele thì “trong hơn 4 thập niên qua, việc tăng cường hiệu suất tưới nước là một trong những yếu tố căn bản đem đến lượng nông phẩm dồi dào”. Việt Nam, nhờ có nước tưới diện tích gieo trồng hàng năm được tăng lên, hệ số sử dụng đất đã tăng từ 1,3 lên 2,2; đặc biệt có nơi đã tăng đến 2,4 - 2,7; góp phần đưa sản lượng lương thực tăng từ 16 triệu tấn (năm 1986) và 34 triệu tấn (năm 1999) và 39,341 triệu tấn năm 2005. Để bảo đảm an ninh lương thực trong những thập kỷ tới người ta vẫn trông chờ vào các vùng đất được tưới. Tiến sĩ Martin Snicth nghiên cứu sự phát triển của hệ thống tưới đã chỉ ra rằng: “tỷ lệ phát triển các hệ thống tưới ở châu Á đã chỉ đạt mức 3% trong những năm 1970 và hiện tại tỷ lệ này ở châu Á chỉ đat 1,4% và có thể giảm xuống 1% trong năm 2010, đó là do không có nguồn đất thích hợp, thiếu nguồn nước đồng 3 thời giá thành đầu tư cao”.
Trong khung cảnh đó, để thoả mãn nhu cầu lương thực ngày càng tăng, ngoài xây dựng các hệ thống mới thì nay chuyển sang biện pháp hướng vào quản lý hiệu quả tưới, nhấnmạnh không chỉ vào khía cạnh kỹ thuật của tưới mà còn ở khía cạnh tổ chức, kinh tế, xã hội và yếu tố môi trường trong tưới tiêu Thủy lợi phí là nguồn thu từ những người sử dụng nước để chi cho quản lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng hệ thống thủy lợi. Như vậy ở đâu có công trình thủy lợi là ở đó cần kinh phí để quản lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng. Nhà nước miễn thủy lợi cho nông dân hay nói cách khác nhà nước trả thay cho nông dân khoản kinh phí đó. Các Công ty quản lý khai thác công trình thủy lợi sẽ được cấp nguồn kinh phí ổn định để quản lý công trình.
Sẽ không còn cảnh thu không đủ chi, nơi có thu nơi không thu, miễn giảm không hợp lý, thậm chí có tỉnh cấp bù cũng không đủ. Hệ thống tưới tiêu được nâng cấp, duy tu bảo dưỡng kịp thời 1. Đặc điểm của dịch vụ quản lý tưới và khai thác CTTL Nhà cung cấp và người sử dụng dịch vụ trước tiên đồng thuận về những chi tiết cụ thể về dịch vụ phân phối nước (ở đâu, khi nào, như thế nào, bao nhiêu…). Nhà cung cấp sẽ cung cấp dịch vụ cho người sử dụng và nhận được thù lao cho dịch vụ được cung cấp.
Thông thường mức thù lao này được xem như hiệu quả của hệ thống trong việc đáp ứng nhu cầu của người sử dụng và phụ thuộc vào việc vận hành linh hoạt của hệ thống. Cách tiếp cận theo định hướng dịch vụ trong lựa chọn dịch vụ, người sử dụng có thể lựa chọn và thay đổi mức độ của dịch vụ phù hợp với nhu cầu của họ và nhà cung cấp dịch vụ sẽ phải kiểm soát các dịch vụ cung cấp tới các người dùng khác nhau. Thông tin đầy đủ và kịp thời sẽ giúp nhà cung cấp và người sử dụng xác định và thỏa thuận được mức độ dịch vụ tốt nhất. Đối với việc cấp nước Các tiêu chí đánh giá chất lượng cung cấp nước bao gồm: Mức độ Công bằng, Độ tin cậy và Sự linh hoạt, mức độ công bằng, 4 - Mức độ đồng đều là tiêu chí cho thấy các khu tưới hay các hộ dùng nước khác nhau trong cùng hệ thống có nhận được lượng nước theo đúng yêu cầu hay không.
- Độ tin cậy: Độ tin cậy là tiêu chí đánh giá mức độ đảm bảo cấp nước đầy đủ đầy đủ, đúng thời điểm và thời gian theo yêu cầu của người dùng nước. - Tính linh hoạt: Tính linh hoạt của một hệ thống thể hiện qua 3 yếu tố: + Tần số: số lần tưới trong lịch tưới có thể điều chỉnh linh hoạt; + Lưu lượng: hệ thống có thể cung cấp lưu lượng một cách linh hoạt theo yêu cầu tưới cho các khu tưới; + Thời lượng: là linh hoạt trong các thời đoạn cấp nước. Sự linh hoạt sẽ tránh cho cây trồng bị thiếu nước hoặc thừa nước gây lãng phí và gây xói mòn đất, đồng thời tránh gây ảnh hưởng đến các hoạt động khác. Về thông tin Trong hiện đại hóa hệ thống tưới thông tin hai chiều từ người cung cấp dịch vụ tới người hưởng dịch vụ và ngược lại luôn đòi hỏi phải được đảm bảo chính xác và kịp thời.
Về quyền sử dụng nước đây là điểm then chốt giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nước và giải quyết một cách hài hòa những mâu thuẫn giữa các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý địa phương và những người hưởng dịch vụ. Hệ thống chỉ có thể tồn tại một cách bền vững và hiệu quả khi quyền sử dụng nước được hiểu đúng nghĩa và được sử dụng đúng mục đích. Người sử dụng nước có quyền yêu cầu người cung cấp nước thực hiện đầy đủ các cam kết về dịch vụ đã thỏa thuận (dựa theo Hợp đồng dịch vụ); người cung cấp dịch vụ tưới có quyền yêu cầu người sử dụng nước tuân thủ cam kết đã ký, sử dụng nước đúng mục đích đã thỏa thuận và trong trường hợp nguồn nước thiếu thì phải chấp nhận mức độ dịch vụ có thể của người cung cấp dịch vụ và tuân thủ theo kế hoạch phân phối nước được điều chỉnh của người cung cấp nước. Những mô tả trong phần trên cho thấy chất lượng dịch vụ trong quản lý nước được thể hiện thông qua mối quan hệ hai chiều giữa bên cung cấp và bên hưởng dịch vụ.
5 Dịch vụ chỉ có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững khi có những giải pháp cải tiến về công trình và vận hành-bảo dưỡng (O&M), áp dụng từng bước công nghệ hỗ trợ ra quyết định và vận hành tiên tiến như SCADA, thực hiện những cải cách trong quản lý như PIM, IMT Trước những đòi hòi của thực tế như vậy, trong những năm vừa qua Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tập trung đầu tư nâng cấp hoàn thiện công trình các hệ thống tưới tiêu sử dụng vốn ODA và vốn đối ứng trong nước. Cùng với sự phát triển và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thủy lợi, nhiều cách tiếp cận khác nhau như: Quản lý tưới có sự tham gia, Quản lý tài nguyên nước tổng hợp, nhằm tăng hiệu quả đầu tư, chuyển từ hình thức “phục vụ” sang hình thức “dịch vụ” nhằm tăng hiệu ích sử dụng nguồn nước và công trình thủy lợi, huy động tối đa sự tham gia của các tổ chức trong quản lý nước để từ đó có thể cải thiện chất lượng phục vụ hướng tới người dùng nước cũng đang được nghiên cứu áp dụng.