CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG LUẬN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ Lê Quốc Doanh (2006) đã nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu luận cứ khoa học để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học chuyên ngành cấp nhà nước. Xây dựng được cơ sở và luận cứ khoa học cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nhằm phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, bền vững và nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam theo hướng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với phương pháp phân tích thống kê theo hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả dịch chuyển của toàn quốc và toàn vùng và phân tích ngành hàng sản phẩm, phân tích và dự báo thị trường, kinh tế học thể chế.
Nguyễn Trọng Uyên (2007) đã nghiên cứu đề tài “Cơ sở khoa học và giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, Luận án tiến sĩ. Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian qua, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng chuyển dịch nhanh hơn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời gian tới. Tài liệu nghiên cứu một số mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên thế giới (Trung Quốc và Thái Lan); phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng đồng bằng sông Cửu Long trong thời kỳ 1996-2005; phân tích các yếu tố đến chuyển ơ 5 dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng đồng bằng sông Cửu Long; và đưa ra các giải pháp trung và dài hạn cho một số mục tiêu mang định hướng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010 và năm 2020. Trần Tuấn Anh (2007) đã nghiên cứu đề tài “Phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Trà Vinh đến năm 2015”, Luận án tiến sĩ.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế có tính đến kinh nghiệm của một số nước và thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Trà Vinh để xác định phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh đến năm 2015. Với phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2015 là: khu vực II tăng 18,3% từ năm 2006 đến năm 2006, tưng ứng tăng khu vực III là 7,8% và sẽ giảm khu vực I là 10,5%. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2007) đã nghiên cứu đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Khánh Hòa”, Luận văn thạc sĩ. Hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Khánh Hòa.
Với phương pháp thống kê mô tả, so sánh và chuyên gia để đưa ra cái nhìn tổng quát, xác thực và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động, các kết quả và hiệu quả kinh tế - xã hội do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang lại. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế ơ 6 Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện xã hội cụ thể, hướng vào thực hiện các mục tiêu đã định.
Cơ cấu kinh tế thường gồm 3 phương diện hợp thành, đó là: (1) cơ cấu ngành kinh tế: phát triển các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh phần nào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội của một quốc gia; (2) cơ cấu thành phần kinh tế: biểu hiện hệ thống tổ chức kinh tế với các chế độ sở hữu khác nhau có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội. cơ cấu thành phần kinh tế cũng là nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu vùng, lãnh thổ trong quá trình phát triển; (3) cơ cấu vùng lãnh thổ: được hình thành bởi việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý Trong cơ cấu vùng lãnh thổ, có sự biểu hiện của cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện cụ thể của không gian lãnh thổ. Tùy theo tiềm năng phát triển kinh tế, gắn liền với sự hình thành phân bố dân cư trên lãnh thổ để phát triển tổng hợp hay ưu tiên một vài ngành kinh tế nào đó.
Việc chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ phải đảm bảo sự hình thành và phát triển có hiệu quả của các ngành kinh tế trên lãnh thổ và trên phạm vi cả nước. Ba loại hình cơ cấu trên đặc trưng cho cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân. Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả. Cơ cấu ngành và thành phần kinh tế chỉ có thể được hình thành và phát triển trên phạm vi vùng lãnh thổ và trên phạm vi cả nước.
Đồng thời, việc phân bố sản xuất trên những vùng lãnh ơ 7 thổ một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế trên vùng lãnh thổ. Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng phụ thuộc vào sự hiểu biết sâu sắc các nhân tố kinh tế, xã hội, kỹ thuật cụ thể của từng vùng trong từng thời gian và khả năng tổ chức sản xuất, quản lý kinh tế, trên cơ sở đó khai thác thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, đất đai, sức lao động, tư liệu sản xuất, tạo ra sự phát triển trên mọi vùng đất nước và tao điều kiện nâng cao đời sống nhân dân nói chung, khắc phục sự lạc hậu của nhiều vùng, nhiều dân tộc. Khái niệm về cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nông - lâm - ngư nghiệp là hệ thống nhỏ trong hệ thống lớn của cơ cấu kinh tế. Cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp cũng là một cấu trúc gắn bó hữu cơ nhiều nhân tố tác động qua lại lẫn nhau cùng tồn tại và phát triển trong những thời gian và không gian nhất định.
Do đó, cơ cấu nông nghiệp bao gồm các ngành sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng, nuôi trồng đánh bắt thủy sản. Bản thân nhiều ngành trong nông nghiệp lại là những hệ thống nhỏ mà trong nhiều hệ thống nhỏ đó lại có những yếu tố, những thuộc tính giống nhau tạo thành hệ thống nhỏ hơn. Sản xuất nông nghiệp phát triển không ngừng, cơ cấu các ngành trong nông nghiệp cũng vận động, biến đổi không ngừng mở rộng. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong cơ cấu ngành nông nghiệp còn có thêm các ngành như: ngành chế biến lương thực, thực phẩm, dịch vụ nông nghiệp… mang tính chuyên môn hóa rõ rệt và tiếp tục có những phát sinh thêm những ngành mới nữa (công nghệ sinh học, tin học nông nghiệp).
Thiếu những ngành này không thể có ngành nông nghiệp hoàn chỉnh được. ơ 8 Do vậy, cơ cấu kinh tế nông nghiệp trước hết là một bộ phận của cơ cấu kinh tế là một ngành lớn một tổng thể hữu cơ của nhiều ngành nhỏ, với nhiều cấp hệ khác nhau, không ngừng hoàn thiện và phát triển trong sự ổn định tương đối, trong các mối quan hệ khắn khít, tác động và tùy thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố, được xác định bằng các quan hệ tỷ lệ về số lượng và chất lượng. Cơ cấu nông nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, nguồn nước và các điều kiện kinh tế - xã hội 1. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia, cơ cấu kinh tế luôn thay đổi. Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi trường phát triển, gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế(Nguyễn Trần Quế, 2004). Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một quá trình tất yếu gắn liền với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, đặt biệt là sự phát triển trong quá trình hội nhập. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra như thế nào phụ thuộc vào các yếu tố như quy mô kinh tế, mức độ mở cửa của nền kinh tế với bên ngoài, dân số của một quốc gia, các lợi thế tự nhiện, nhân lực, điều kiện kinh tế, văn hóa,… Nhân tố quan trọng khác góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó là quá trình chuyên môn hóa trong phạm vi quốc gia và mở rộng chuyên môn hóa quốc tế và thay đổi công nghệ, tiến bộ kỹ thuật.
Chuyên môn hóa mở đường cho việc trang bị kỹ thuật hiện đại, áp dụng công nghệ tiên tiến, hoàn thiện tổ chức, nâng cao năng suất lao động xã hội. Chuyên môn hóa cũng tạo ra những hoạt động dịch vụ và chế biến mới, làm cho tỷ trọng các ngành truyền thống giảm đi, tỷ trọng các ngành dịch vụ kỹ thuật mới tăng trưởng nhanh chóng và dần dần chiếm ưu thế. Phân công lao động và sự tiến bộ kỹ thuật, công nghệ ngày càng phát ơ 9 triển sâu sắc tạo ra những tiền đề cho phát triển thị trường các yếu tố sản xuất. Và ngược lại, việc phát triển thị trường các yếu tố sản xuất lại thúc đẩy quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và do vậy làm sâu sắc thêm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Nguyễn Trần Quế, 2004).
Thực chất chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự phát triển không đều giữa các ngành. Ngành có tốc độ phát triển cao hơn tốc độ phát triển chung của nền kinh tế thì sẽ tăng tỷ trọng và ngược lại. Nếu tất cả các ngành có cùng một tốt độ tăng trưởng thì tỷ trọng các ngành sẽ không đổi, nghĩa là không có chuyển dịch cơ cấu ngành.