Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH CÁC MẶT HÀNG TIÊU DÙNG THIẾT YẾU VÀ CÁC BIỆN PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CÁC MẶT HÀNG TIÊU DÙNG THIẾT YẾU 1.1 Tổng quan về hàng tiêu dùng thiết yếu và kinh doanh các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu 1.1 Khái quát về hàng tiêu dùng thiết yếu Điều 4, Luật giá 2013 quy định: “Hàng hóa, dịch vụ thiết yếu là những hàng hóa, dịch vụ không thể thiếu cho sản xuất, đời sống, quốc phòng, an ninh, bao gồm: nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, dịch vụ chính phục vụ sản xuất, lưu thông; sản phẩm đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người và quốc phòng, an ninh”. Căn cứ Điều 15 Luật giá 2013 quy định: Hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá là hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho sản xuất, đời sống. Bao gồm: + Xăng, dầu thành phẩm; + Điện; + Khí dầu mỏ hóa lỏng; + Phân đạm; phân NPK; + Thuốc bảo vệ thực vật theo quy định của pháp luật; + Vac-xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm; + Muối ăn; + Sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi; + Đường ăn, bao gồm đường trắng và đường tinh luyện; + Thóc, gạo tẻ thường; + Thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người thuộc danh mục thuốc chữa bệnh thiết yếu sử dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của hàng tiêu dùng thiết yếu: - Đó là những sản phẩm mà mọi người không thể hoặc không muốn cắt giảm trong chi tiêu bất kể tình hình kinh tế đang tăng trưởng hay suy giảm.
- Hàng tiêu dùng thiết yếu là các mặt hàng không theo chu kì, nghĩa là chúng luôn có nhu cầu quanh năm, cho dù nền kinh tế đang hoạt động tốt hay không tốt. Ngoài ra, nhu cầu sử dụng hàng tiêu dùng thiết yếu của mọi người khá ổn định, bất kể giá cả của chúng.2 Kinh doanh các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp - Đối với các doanh nghiệp sản xuất bao gồm các giai đoạn sau:: 7 + Nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá,, dịch vụ để lựa chọn và quyết định sản xuất cái gì. + Chuẩn bị đồng bộ các yếu tố đầu vào để thực hiện quyết định sản xuất như:: lao động,, đất đai,, thiết bị máy móc,, vật tư,, công nghệ. + Tổ chức tốt quá trình kết hợp chặt chẽ,, khéo léo các yếu tố đầu vào để tạo ra hàng hoá,, dịch vụ.
+ Tổ chức tốt quá trình tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ và thu tiền về. - Đối với các doanh nghiệp thương m ại - dịch vụ bao gồm các giai đoạn sau: + Nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hóa, dịch vụ để lựa chọn và quyết định lượng hàng hóa cần mua để bán cho khách hàng. + Tổ chức việc mua các hàng hóa,dịch vụ theo nhu cầu thị trường. + Tổ chức việc bao gói, chế biến để chuẩn bị bán ra.
+ Tổ chức việc bán hàng hóa và thu tiền về. Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp là khoảng thời gian từ lúc bắt đầu khảo sát nghiên cứu nhu cầu thị trường về hàng hoá đến lúc bán xong hàn g hoá và thu tiền về. Chu kỳ kinh doanh bao gồm các khoảng thời gian chủ yếu sau: - Thời gian nghiên cứu nhu cầu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? - Thời gian chuẩn bị các yếu tố đầu vào,, mua hàng hoá,, dịch vụ nào để chuẩn bị quá trình sản xuất kinh doanh. - Thời gian tổ chức quá trình sản xuất hoặc bao gói, chế biến - Thời gian tổ chức quá trình tiêu thụ hàng hoá Việc rút ngắn chu kỳ kinh doanh có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng nhanh kết quả kinh doanh và giảm chi phí kinh doanh.
Rút ngắn chu k ỳ kinh doanh của doanh nghiệp đặc biệt có ý nghĩa trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.2 Vai trò và công cụ của chính phủ đối với hoạt động kinh doanh các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu 1.1 Vai trò của Chính phủ trong quản lý hoạt động kinh doanh các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu (a) Định hướng, hướng dẫn hoạt động của các chủ thể trao đổi các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu trên thị trường Nhà nước định hướng, hướng dẫn các doanh nghiệp trong các hoạt động đầu tư và kinh doanh trên thị trường nội địa và quốc tê, nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cho sự phát triển 8 thương mại. Từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống dân cư và nâng cao phúc lợi xã hội. Vai trò định hướng, hướng dẫn của nhà nước trong lĩnh vực thương mại được thể hiện thông qua các chiến lược, quy hoạch, các chương trình mục tiêu, các dự án, kế hoạch và chính sách. Nhờ vậy, các doanh nghiệp mới có cơ sở để tính toán, lựa chọn các quyết định đầu tư và kinh doanh theo các ngành hàng, các nhóm sản phẩm dịch vụ, theo phạm vi thị trường và theo độ dài thời gian cũng như liên kết, liên doanh với các đối tác một cách hợp lý.
Để giúp doanh nghiệp có định hướng đầu tư và kinh doanh đúng đắn, các văn bản kế hoạch hoá và chính sách thương mại cũng như pháp luật của nhà nước cần phải minh bạch, rõ ràng, thống nhất và đồng bộ. Cần có sự hướng dẫn cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các thông tin về chiến lược, chính sách, quy hoạch, dự án , và thông hiểu các quyết định của nhà nước. Chất lượng của công cụ kế hoạch hoá, chính sách và bộ máy tổ chức trong quản lý nhà nước về thương mại được tăng cường mới tạo niềm tin, sự yên tâm cho các doanh nghiệp trong tính toán, quyết định phương án đầu tư, sản xuất kinh doanh. (b) Tạo lập môi trường thương mại và cạnh tranh cho các chủ thể kinh doanh các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu Môi trường thương mại và cạnh tranh phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, luật pháp và thủ tục hành chính.
Các thông tin về kế hoạch hoá thương mại nếu bị thiên lệch trong quá trình phổ biến cho các doanh nghiệp, các quy định chính sách nếu phân biệt đối xử sẽ bóp méo cạnh tranh, thủ tục hành chính rườm rà, khung khổ pháp lý nếu không đầy dủ, đồng bộ, nhất quán và minh bạch sẽ gây trở ngại cho thương mại trên nhiều mặt, dẫn đến cả tổn thất về vật chất, tài chính và tinh thần, văn hoá. Do vậy quản lý Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập, cải thiện môi trường kinh doanh, nhất là trong điều kiện môi trường kinh doanh luôn có sự vận động biến đổi không ngừng. Nhà nước tạo lập và cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp thông qua khai thông các quan hệ thương mại, làm thông thoáng sự giao lưu hàng hoá trong nước và quốc tế, nhờ thiết lập khung khổ pháp lý đầy đủ hơn, đồng bộ hơn, tiến bộ hơn và thuận lợi hơn trong lĩnh vực thương mại bao gồm các quy định pháp luật, các chính sách, ký kết các hiệp định, thực hiện các cam kết mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế. Nhà nước vừa là người ban hành các chính sách, các quy định, vừa là người chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nhằm đưa chúng vào thực tiễn cuộc sống của các doanh nghiệp.
Trong quá trình đó, nhà nước đã sử dụng quyền lực, sứ mạng và khả năng của 9 mình để kiến tạo môi trường kinh doanh. Nếu môi trường kinh doanh phù hợp, nghĩa là có sự đồng thuận, thống nhất giữa nhà nước và doanh nghiệp, chính phủ trong trường hợp này đã ủng hộ thị trường, tôn trọng và phát huy tính hiệu quả của thị trường. Để tạo ra môi trường kinh doanh trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh ở mức độ cao hiện nay, nhất là mục tiêu của doanh nghiệp là có nhiều di động, đòi hỏi các nhà quản lý vĩ mô cũng phải đổi mới nhận thức và tư duy về các công cụ, chính sách quản lý, nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất trong việc ra quyết định cũng như phối hợp lãnh đạo, điều hành hoạt động kinh tế, thương mại. (c) Hỗ trợ các doanh nghiệp và giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấpi trong kinh doanh các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu Các doanh nghiệp đều là “một thực thế sống” trong nền kinh tế, họ cũng cần những sự trợ giúp nhất định.
Nhà nước bằng quyền lực, trách nhiệm và khả năng của mình hỗ trợ cho các doanh nghiệp phù hợp với thực tiễn của đất nước trong từng thời kỳ. Nhà nước có thể hỗ trợ cho mọi người dân và doanh nghiệp về ý chí làm giàu, hỗ trợ về tri thức, về vốn, cơ sở vật chất phương tiện kỹ thuật và thông tin, các hỗ trợ về xúc tiến thương mại, các thủ tục hành chính để giúp doanh nghiệp ở những giai đoạn, những hoàn cảnh và những trường hợp khác nhau trong quá trình họat động. Đặc biệt, khi đối mặt với thách thức của môi trường kinh doanh luôn biến động. Tuy nhiên, những hỗ trợ mang tính trợ cấp bóp méo thương mại và cạnh tranh sẽ bị loại bỏ trong xu hướng hội nhập và phát triển.
Hoạt động thương mại đòi hỏi doanh nhân phải có nhiều tố chất, điều kiện nhưng có những vấn đề chỉ nhà nước mới có thể giải quyết được cho nhà kinh doanh như an ninh thương mại hoặc phần lớn do nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh doanh. Nhà nước là chỗ dựa tin cậy và tốt nhất cho các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh và đầu tư, cạnh tranh cùng tồn tại và phát triển. Nhà nước là người trực tiếp can thiệp và giải quyết các mâu thuẫn trên thị trường. Chỉ Nhà nước chứ không phải thị trường mới có khả năng và cần thiết phải giải quyết các mâu thuẫn giữa các chủ thể kinh doanh với nhau trong mua và bán, trong nhập khẩu và xuất khẩu, mâu thuẫn giữa kinh doanh đúng đắn, trung thực và kinh doanh trốn thuế, giữa kinh doanh hàng thật, hàng hóa được nhà nước cho phép kinh doanh với hàng giả, hàng cấm, mâu thuẫn giữa chủ và thợ, người làm thuê, giữa thương mại và môi trường,.
Nhà nước dựa vào các chuẩn mực về luật pháp, các định chế cần thiết để thực hiện và cưỡng chế việc thi hành luật, giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hệ thống bộ máy tổ chức gồm tòa án và các cơ quan cưỡng chế thi hành luật.