mở đầu cho quá tình đạt được các thỏa thuận vào đầu năm 2009, là một đấu hiệu thể lên sự đoàn kết của cộng đồng quốc tế cùng ứng phố với BDKH. Hội nghị các Bên lần này đồng một vai tro quan trọng trong việc thành lập một chương trình nghị sự ứng phó với BDKH trong tương lai Ban Chính phủ về Biển đổi khí hậu (IPCC) cũng đã tổ chức 4 lẫn bảo cio đánh giá tình hình BĐKH toàn cầu. Mỗi lần đánh giá đều có những tiến bộ mới về nguồn số liệu và phương pháp, làm giảm đáng kế những điều chưa chắc chắn tổn tai trước đây, do đồ nâng cao rõ rệt mức độ tn cậy của những kết luận vé BKH trong quá khứ cũng như tương lai. Những kết luận chính trong báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC được công bỗ tháng 2 năm 2007.
Kết luận đã đưa ra xu thể tăng nhiệt độ trong chuỗi số liệu 100 năm (1906 - 2005) là 0,74"C; xu thé tăng nhiệt độ trong 50 năm gin day là 0.13'C/1 thập kỹ, sắp 2 là xu thé tăng của 100 năm qua. Nhiệt độ trung bình ở Bắc ewe đã tăng với tỷ lệ 1.5°C/100 năm, gắp 2 lần ty lệ tăng trung bình toàn cầu, nhiệt độ trung bình ở Bắc cực trong 50 năm cuối thé kỹ XX cao hơn bắt kỳ nhiệt độ trung bình của 50 năm nào khác trong 500 năm gần đây, BDKH cũng đã gây ra những hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên nước. Sự ắm lên toàn cầu sẽ làm cho chu tình thủy văn trở nên biển động mạnh hơn như thay đổi về chế độ mưa va bốc hơi. Mặc dù chưa xác định được cụ thể những ảnh.
hưởng nào của hiện tượng này tác động đến tải nguyên nước, nhưng tình trạng thiếu nước chắc chắn sẽ tác động trở lại đến chất lượng nước và tằn suất cúc hiện tượng cực đoan như hạn hắn, lũ lụt. Do 46, vin đề cạnh tranh về nước đang ngây cảng trở nên căng thẳng giữa các quốc gia, khu vực, đô thị, nông thôn. hoặc giữa các ngành gh Tĩnh vực hoạt động khác nhau. Điều đó khiển cho nước đang dẫn trở thành một trong những vẫn đề chính tị ti nhiều quốc gia trên th giới Theo Giám đốc UNESCO Koichiro Matsuura, tong trạng thiếu nước gia tăng như hiện nay, vin đỀ quản lý hiệu quả tôi nguyên nước trở nên quan trong hơn bao giờ hết, Nhu cầu về nước ngày cảng tăng, tai nhiễu quốc gia trên thế giới tải nguyên nước 4 bị Khai thác quá mức, vượt quá khả năng của nguồn nước, Hơn nữa, do tắc động của BĐKH, tình trạng khan hiểm nước càng thêm trằm trọng hơn, Tài nguyên nước là nguồn ti ngu thiên nhiên có thể tạo nhưng cũng có thé bị can kiệt tùy vào tốc độ khai thác của con người và khả năng tải tạo của mỗi trường.
Ngày nay, kh sử dụng nước cho mọi hoạt động đã trở nên phổ biến thì nhủ cầu vé nước ngày cảng gia tăng là điều tắt yêu. Tuy nhiên, việc sử dụng khai thác, sử dụng nước chưa hợp lý kết hợp với các tác động của BĐKH đã gây ra những hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn. tải nguyên nước. Do đó, ch thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu, chỉ tết để có thể đánh giá đúng và diy đủ tác động của BDKH và các hoạt động kinh tế, xã hội đến hệ thống cắp nước nó riêng va đến vẫn để quản ý, kha thie sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước trên thé giới nói chung.2, Các nghiên cứu liên quan tại Việt Nam Bign đổi khí hậu đang de doo nghiêm trọng đến lợi ich sống còn của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia trên thể giới, trong đó có Việt Nam.
Biểu hiện rõ nét nhất là hiện tượng thời tiết bất thường, trái đất đang nóng lên; hậu quả làm băng tan, mực nước biển ding sao, mưa lũ, bão lốc, gidng tổ gia ting. Con người đã và đang phải di mặt với những tác động khôn lường của BĐKH như dịch bệnh, đỏi nghẻo, mắt nơi ăn chén ở, thiếu đất canh tác, sự suy giảm đa dang sinh học. Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP, 2007), Việt Nam nằm trong top 5 nước đứng đầu thé giới để bị tn thương nhất trước sự biển đổi khí hậu: nêu mực nước biển tăng Im thi Việt Nam sẽ mắt 5% diện tích đất dai, khoảng 116 din số mắt nhà cửa, giảm 79 sản lượng nông nghiệp và 10% thụ nhập quốc mị gắn 50% dit nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cừu Long bị ngập chim không còn khả năng canh tác. Vùng đồng bằng sông Hồng và toàn bộ dân cư sống dọc theo 3200Km bờ biển cũng bị ảnh hưởng lớn.
BDKH ảnh hưởng đế: toàn bộ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. bản của Ngân hàng Thé giới (World Bank), BĐKH sẽ làm cho Việt Nam mắt 1/2 diện tích canh tác và 22 triệu dan bj mắt nhà cửa. Ảnh hưởng đến đất canh tác là ảnh hướng. đến vin đề an ninh lương thực, đồi sống của người dân và các hệ thông công tình khác.
Tại cuộc họp v8 BĐKH do Chương trinh Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) tổ chức gin đây, Ph ban chỉ đạo thự hiện công ước khí hậu và nghị định thư Kyoto cia Việt Nam cũng cho rằng: "Sinh kế của hàng chục triệu người Việt Nam dang bị de doa với những ảnh hưởng của BDKH. Vấn để này và những hệ quả của nó đang khiến cho cuộc sống người nghèo và những người cận nghèo Việt Nam ở vùng núi, vùng biển vũng đồng bằng bị de dọn”. BDKII là mốt de dog thực sự đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đặc biệt, các vùng ven biển Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều nhất do BĐKH gây ra như hạn hán, bão, lũ lụt, gây thiệt hại ắt lớn về người và của "Đây là nguyên nhân lâm châm tốc độ tăng trường kinh t của khu vực kém, tỷ lệ nghèo, a tăng, làm giảm khả năng ứng phd đối với các thiên tai do BĐKH gây ra 'Việt Nam có lịch sử lâu dài đối phó với thiên tai và có nhiều biện pháp ứng phó khi có thiên tai xây ra. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, BĐKH khiến nhiệt độ trung.
bình năm tăng khoảng 0,1C/ thập kỷ, mye nước biển dâng cao,lượng mưa ting vào mùa mưa gây nên lũ lớn đặc biệt và giảm vào mũa khô gây nên hạn hin, tin suất thiên tai ngây cảng cao đã gây nhiều thiệt hại cho nhiều ving ở Việt Nam. Các vùng ven biể 'Việt Nam có dan số khôang 18 trig người, chiém gin 1/4 dân số cả nước trong đồ điện tích đắt sử dụng chỉ chiếm 16% tổng điện tích cả nước. 58% dân cư ving ven biển chủ yếu sống dựa và nông nghiệp và đánh bắt thuỷ sản, khoảng 480.000 người trực tgp làm nghề đánh bắt hãi sản, 10.000 người chế biển hải sản và 2.000 người cung cấp các địch vụ liên quan đến nghề cá. BDKH đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế ở các cùng ven biển Việt Nam.
Nuôi tring thuỷ sản ở ving ven coi là ngành có tăng trưởng quan trọng, có giá tri xuất khẩu cao và cũng là ngành chịu nhiễ thiệt hại nhất do BĐKH Ngoài việc ảnh hưởng nghiêm tọng đến việc nuôi trồng thuỷ sản của các vùng ven biển Việt Nam, BDKH mà cụ thể à mục nước biễn dâng cao còn làm cho tình trang xâm mặn ở các vùng ven biển ngày càng trở nên nghiêm trong hơn. Nó đã trở thành một trong những vin dé nan giả tại một số dia phương. Ding bing sông Cứu Long với 1,77 tiệu ha đất nhiễm mặn, chiếm 45% diện tích và đây là địa phương có diện tích đất nhiễm mặn lớn nhất. Nếu mực nước biển sẽ tiếp tục dâng cao lên 30cm theo.
kịch bản BDKH năm 2050, tinh trang nước mặn kèm theo mắt đất và xâm mặn ở đồng bằng sông cửu long và một số khu vực đồng bằng sông hồng, là những khu vực nông nghiệp quan trọng là nơi cung cắp một lượng gạo xuất khẩu lớn nhất cả nước, Nếu tinh trạng này xây ra, nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trong đến an ninh lương thực quốc gia Ngoài rụ nếu mực nước biển ding cao, các tri nuôi trồng thuỷ sin phải di đời và xâm mặn. diện tích rng ngập mặn giảm sẽ làm mắt nơi ew trú của cấc sinh vật nức ngọt. BDKHI khiến cho thiên tai như lũ lụt bão xuất hiện với tin suất nhiều hơn, xâm mặn. hạn hắn và bão.
cả nên nông nghiệp lẫn các hệ sinh thai thiên nhiên chắc chắn sòn bị ảnh hưởng do nhiệt độ ting tối thiểu, số ngày có nhiệt độ đưới 20°C giảm đi (0- 50 ngày vào năm 2070) và sổ ngày có nhiệt độ 25°C tăng lên (0-80 ngày vào nim 2070). Sự thay đổi này sẽ ảnh hưởng xấu đến các thời ky sinh trưởng, thời vụ và phân ô cây trồng, làm tăng hoạt động của sâu hại và vi-rút. Theo dự báo, BĐKH sẽ làm sản lượng lúa hề thu giảm từ 3 đến 6% vào năm 2070 so với giai đoạn 1960-1998, sản lượng vụ lúa đông xuân có thể giảm tới 17% vào năm 2070 đối với miễn Bắc, giảm. 8% vào năm 2070 đối với miễn Nam, sin lượng ngô đồng xuân cổ thể giảm 4% ở miễn Trung và 9% ở miễn Nam BDKH ảnh hướng trực tiếp và gián p đến nguồn ti nguyên nước.
Nguễn nước mặt khan hiểm trong mùa khô gây hạn hán, và qui dư thửa rong mùa mưa gây lũ lụt Nguồn nước ngầm bị suy giảm do thiểu nguồn bổ sung, giai đoạn sau năm 2020, mực nước ngằm có thể giảm đáng kể do chịu ảnh hưởng của hoạt động khai thắc và suy giảm lượng nước cung cấp cho dòng chảy ngắm trong mùa khô, mye nước tại các vùng không bị ảnh hưởng của thuỷ tiểu có xu hướng hạ thấp hơn, BĐKH làm cho dang chảy sông ngòi thay đổi về lượng và sự phân bổ theo thời gian, vùng lãnh thé. Vị [Nam là một trong năm quốc gia chịu ảnh hướng nặng nề nhối cla BDKH, có khá năng tác động mạnh lên tài nguyên nước và làm cho những vin đề vốn rất nghiêm. trọng nêu trên đây cảng nghiêm trọng bơn, nhiễu ấn 8 tài nguyên nước hiện chỉ tiềm ấn ở dang các nguy cơ thì có thể trở thành hiện thực nay mai. Theo dự báo, tác động củn BĐKH sẽ làm đồng chảy trong mùa khô ở vùng đồng bằng sông Cửu Long suy giảm khoảng 4.5% vio năm 2050 và khoảng 33,7% vào năm 2100, Những tác động nêu trên, cùng với tắc động của BĐKH và nhu cầu sử dụng nước của các quốc gia đều tăng lên mạnh mẽ trong những năm tớ th tình trang thiểu nước, khan hiểm nước sẽ ngiy cing gia ting.