MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Qua các báo cáo đã được công bố của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) thì những diễn biến của biến đổi khí hậu toàn cầu đang có những thay đổi như: nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng, thay đổi lượng mưa, các hiện tượng thời tiết cực đoan (TTCĐ) gia tăng về cường độ và tần suất, băng tan và nước biển dâng (NBD). Những biểu hiện này trong tương lai sẽ tiếp tục gia tăng theo chiều hướng có những biến đổi không lường trước được,.Biến đổi khí hậu (BĐKH) trong hiện tại và tương lai sẽ gây nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh lương thực (ANLT) và nguồn nước trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Việt Nam là đất nước chịu ảnh hưởng lớn của BĐKH và NBD.
Theo Kịch bản BĐKH (KBBĐKH), NBD cho Việt Nam, năm 2012 thì trước những dự báo về sự gia tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa, đồng nghĩa với tăng nguy cơ cháy rừng, hạn hán, lũ lụt, tăng tần suất và cường độ bão, ảnh hưởng tới sinh lý cây trồng nông nghiệp gây mất mùa, giảm năng suất. Hơn nữa, dự báo gia tăng mực nước biển có thể tới 1m, gây nguy cơ ngập: 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung (xem [1]). Việt Nam là đất nước có 3/4 diện tích là đồi núi, do đó canh tác nông nghiệp trên vùng đồi núi và trung du cần đặc biệt trú trọng và sẽ đóng góp quan trọng trong việc bảo đảm ANLT của Việt Nam trong điều kiện BĐKH. Tuy nhiên, trong tương lai các hiện tượng TTCĐ ngày một gia tăng về cường độ và tần suất (mưa lớn, bão lớn, mưa đá, sương muối, hạn hán,…) gây ảnh hưởng to lớn tới nông nghiệp đặc biệt vùng đất dốc (VĐD) càng tạo ra sức ép về mưu sinh trong hiện tại và tương lai cho người dân vùng miền núi, trung du.
Cộng đồng dân cư vùng núi và trung du, trong đó có tỉnh miền núi Hòa Bình, hiện đang canh tác nông nghiệp trên đất dốc (TĐD) với truyền thống canh tác đơn giản, lạc hậu, phụ thuộc vào tự nhiên, thiếu kiến thức về canh tác cây trồng nông nghiệp TĐD trong điều kiện BĐKH đang là những khó khăn, thách thức. Mặt khác, một nhận định của Nguyễn Ngọc Mai và Đào Thế Anh (CASRAD) về nông nghiệp Việt Nam càng cho thấy sự khó khăn, thách thức tăng cao trước 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com BĐKH trong tương lai: diện tích sản xuất nông nghiệp của các tỉnh đồng bằng Sông Hồng không tăng thậm chí còn giảm là do mất đất vào các khu công nghiệp và khu đô thị, diện tích bình quân đầu người tăng có thể là do di cư lao động hoặc chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp. Các tỉnh Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, đặc biệt là Hòa Bình có diện tích gieo trồng lúa trên đầu người thấp, không bảo đảm ANLT. Đối với các tỉnh Miền núi phía Bắc, cây lương thực ngô, khoai, sắn vừa giải quyết vấn đề ANLT vừa xóa đói giảm nghèo, nhưng nó lại liên quan chặt chẽ đến nguồn tài nguyên khí hậu, nhất là lượng mưa.
Trong Kế hoạch hành động (KHHĐ) ứng phó với BĐKH (UPVBĐKH) tỉnh Hòa Bình, năm 2012 đã có những thống kê về tình hình và thiệt hại do thiên tai lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán, rét đậm rét hại (RĐRH),…với chiều hướng gia tăng về tần suất và cường độ, tính bất thường: lũ quét trên địa bàn một số huyện các năm 2001, 2002, 2007; hạn hán xẩy ra gay gắt, thiếu nước trầm trọng các năm 2003, 2004, 2005, 2007; RĐRH năm 2008 kéo dài trên 1 tháng,…(xem [20]). Trước bối cảnh BĐKH, Thủ tướng Chính phủ đã lần lượt ban hành Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia UPVBĐKH và Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011 phê duyệt Chiến lược quốc gia về BĐKH. Trong Quyết định số 2139/QĐ-TTg, những thách thức do BĐKH cũng như quan điểm Chiến lược của nước ta về BĐKH đã được chỉ rõ (xem [16], [17]): Những thách thức do BĐKH Những thách thức về mọi mặt kinh tế - xã hội (KTXH) đối với Việt Nam do BĐKH là cực kỳ lớn, nhất là những thách thức về nông nghiệp và nguồn nước: - BĐKH đe dọa nghiêm trọng đến ANLT và phát triển nông nghiệp: thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là một phần đáng kể ở vùng đất thấp đồng bằng ven biển, đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long bị ngập mặn do NBD; tác động lớn đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh hại cây trồng; thời gian thích nghi của cây trồng nhiệt đới mở rộng và của cây trồng á nhiệt đới thu hẹp lại; ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng, tăng khả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm. - Do tác động của BĐKH, tài nguyên nước phải chịu thêm nguy cơ suy giảm do hạn hán ngày một tăng ở một số vùng, mùa, ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiệp, 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cung cấp nước ở nông thôn, thành thị và sản xuất thủy điện.
Chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa, và hạn hán vào mùa khô, tăng mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước. Những quan điểm Chiến lƣợc UPVBĐKH - BĐKH là thách thức nghiêm trọng nhất đối với toàn nhân loại, ảnh hưởng sâu sắc và làm thay đổi toàn diện đời sống xã hội toàn cầu. Là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, Việt Nam coi UPVBĐKH là vấn đề có ý nghĩa sống còn. - UPVBĐKH của Việt Nam phải gắn liền với phát triển bền vững (PTBV), hướng tới nền kinh tế các-bon thấp, tận dụng các cơ hội để đổi mới tư duy phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và sức mạnh quốc gia.
- Tiến hành đồng thời các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (KNK) để ứng phó hiệu quả với BĐKH, trong đó ở thời kỳ đầu thích ứng là trọng tâm. - UPVBĐKH là trách nhiệm của toàn hệ thống; phát huy vai trò chủ đạo trong quản lý, điều hành của Nhà nước, nâng cao tính năng động, sáng tạo và trách nhiệm của khu vực doanh nghiệp, phát huy cao nhất sự tham gia và giám sát của các đoàn thể chính trị xã hội, nghề nghiệp và cộng đồng dân cư; phát huy nội lực là chính, tận dụng hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế. - Các giải pháp UPVBĐKH phải có tính hệ thống, đồng bộ, liên ngành, liên vùng, trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng giai đoạn và các quy định quốc tế; dựa trên cơ sở khoa học kết hợp với kinh nghiệm truyền thống và kiến thức bản địa; tính đến hiệu quả KTXH và các yếu tố rủi ro, bất định của BĐKH. - Chiến lược về BĐKH có tầm nhìn xuyên thế kỷ, là nền tảng cho các chiến lược khác.
Như vậy, trước những thách thức, nước ta đã có quan điểm rất rõ ràng để UPVBĐKH trong hiện tại và tương lai: UPVBĐKH có ý nghĩa sống còn, thời kỳ đầu phải lấy thích ứng là trọng tâm. Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia UPVBĐKH và Chiến lược quốc gia về BĐKH, tỉnh Hòa Bình đã xây dựng KHHĐ UPVBĐKH tỉnh Hòa Bình và ban hành Quyết định phê duyệt Kế hoạch với những mục tiêu và các nhiệm vụ trọng tâm UPVBĐKH phù hợp với Chương trình mục tiêu và Chiến lược quốc gia. KHHĐ UPVBĐKH tỉnh Hòa Bình (xem [20]) 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các mục tiêu của KHHĐ UPVBĐKH tỉnh Hòa Bình đã được nêu ra như sau: - Bảo đảm ANLT, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, an sinh xã hội, sức khỏe cộng đồng, nâng cao đời sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh BĐKH; - Nền kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng xanh trở thành xu hướng chủ đạo trong PTBV; giảm nhẹ phát thải KNK và tăng khả năng hấp thụ KNK dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc trong phát triển KTXH; - Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực UPVBĐKH của cả cộng đồng, đặc biệt là các cấp, các ngành, các địa phương. - Phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực; - Hoàn thiện thể chế, chính sách, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính; tận dụng các cơ hội từ BĐKH để phát triển KTXH; phát triển và nhân rộng lối sống, mẫu hình tiêu thụ thân thiện với hệ thống khí hậu (HTKH).
Các nhiệm vụ của KHHĐ đƣa ra UPVBĐKH - Thích ứng với BĐKH (TUVBĐKH), chủ động ứng phó với thiên tai bão, lũ, hạn hán, an toàn hồ chứa; - Đảm bảo ANLT và tài nguyên nước; - Bảo vệ, PTBV rừng, tăng cường hấp thu KNK và bảo tồn đa dạng sinh học, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên rừng; - Giảm nhẹ phát thải KNK phù hợp với điều kiện quốc gia và mục tiêu PTBV của tỉnh; phát triển nền kinh tế theo hướng các-bon thấp; - Tăng cường năng lực quản lý về BĐKH, hoàn thiện cơ chế chính sách; - Xây dựng cộng đồng ứng phó hiệu quả với BĐKH, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức cộng đồng; - Triển khai các hoạt động khoa học công nghệ làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách về BĐKH, đánh giá tác động, xác định các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ BĐKH. Thấy rõ những thách thức to lớn về nông nghiệp và nguồn nước do BĐKH, những quan điểm của Chiến lược quốc gia về BĐKH và những mục tiêu, nhiệm vụ mà tỉnh Hòa Bình đã vạch ra để thực hiện tại KHHĐ UPVBĐKH, đề tài nghiên cứu sau đây đã hướng tới một lĩnh vực góp phần bảo đảm ANLT, sử dụng hài hòa, tiết kiệm được nguồn nước trên những VĐD mà trong quá khứ, hiện tại đã và đang bị tác động 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mạnh mẽ do con người, do tự nhiên, do BĐKH. Nhưng trong tương lai, những tác động do BĐKH tới các VĐD càng nghiêm trọng hơn bao giờ hết bởi mưa lớn gây xói mòn đất vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô gây khó khăn cho canh tác nông nghiệp, đặc biệt, người dân vùng trung du, miền núi đang canh tác nông nghiệp TĐD cần phải được nâng cao nhận thức về tác động của BĐKH, cần hiểu và làm được cách thức canh tác bền vững TĐD TUVBĐKH. Đề tài có hướng nghiên cứu: “Nghiên cứu một số giải pháp canh tác cây trồng nông nghiệp trên đất dốc thích ứng với biến đổi khí hậu tại tỉnh Hòa Bình.
Mục tiêu của đề tài 2.