CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC Trong Chương này Luận văn tổng quan các tài liêu liên quan tới các nội dung: i) Tác động của BĐKH tới tài nguyên nước; ii) Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng; iii) Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng; iv) Hệ sinh thái -xã hội và cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái; v) tổng quan khu vực nghiên cứu. Một số khái niệm Những khái niệm chính được lựa chọn và phân tích có mối liên hệ logic và hệ thống với nhau nhằm tập trung giải quyết các nội dung nghiên cứu của luận văn. - Biến đổi khí hậu (climate change): sự biến đổi về trạng thái của khí hậu có thể được nhận biết qua sự biến đổi trong giá trị trung bình và/hoặc sự biến đổi thuộc tính của nó, được duy trì trong thời gian dài, điển hình là vài thập kỷ hoặc lâu hơn.
Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển (IPCC, 2012, trang 450). - Giảm nhẹ BĐKH (mitigation of climate change): là sự can thiệp của con người làm giảm nguồn và cải thiện bể chứa các khí nhà kính. Giảm nhẹ là việc giảm tốc độ của biến đổi khí hậu thông qua việc quản lý các tác nhân của nó (phát thải khí nhà kính từ quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch, từ nông nghiệp, từ thay đổi sử dụng đất, từ sản xuất xi măng, v. - Khả năng chống chịu (resilience): là khả năng của một hệ thống và các hợp phần của nó có thể phán đoán, hấp thụ, điều chỉnh và vượt qua những ảnh hưởng của một hiện tượng nguy hiểm một cách kịp thời và hiệu quả kể cả khả năng giữ gìn, hồi phục và tăng cường các cấu trúc và chức năng cơ bản quan trọng của hệ thống đó (IPCC, 2012 trang 34, Trương Quang Học, 2013).
- Năng lực thích ứng (aqdaptive capacity): Sự kết hợp của tất cả các điểm mạnh, thuộc tính, và nguồn lực sẵn có cho một cá nhân, cộng đồng, xã hội, hoặc tổ chức có thể được sử dụng để chuẩn bị và thực hiện các hành động để giảm tác động xấu, giảm thiệt hại hoặc tận dụng các cơ hội có lợi. Năng lực thích ứng đề cập đến khả năng dự đoán và thay đổi cơ cấu, chức năng, hoặc tổ chức để tồn tại tốt hơn trước các hiểm họa (IPCC, 2012 trang 72). 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tính dễ bị tổn thương (vulnerability): đề cập đến khuynh hướng của các yếu tố nhạy cảm với hiểm họa như con người, cuộc sống của họ, tài sản bị ảnh hưởng bất lợi khi bị tác động bởi những các hiểm họa (IPCC, 2012 trang 69). Tính dễ bị tổn thương là kết quả của nguồn tài lực xã hội, điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, thể chế, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện môi trường và các quy trình (IPCC, 2012 trang 31).
- Thích ứng với BĐKH (adaptation to climate change): sự điều chỉnh trong hệ thống tự nhiên hoặc nhân tạo để ứng phó với các tác nhân khí hậu hiện tại và tương lai, như làm giảm (những) thiệt hại hoặc tận dụng các cơ hội có lợi (IPCC, 2007, IPCC 2012 trang 36). - Hệ sinh thái (ecosystem): một tổ hợp hoạt động của quần xã thực vật, động vật, vi sinh vật, và các điều kiện môi trường vô sinh xung quanh trong sự tương tác lẫn nhau như một đơn vị chức năng thông qua các dòng năng lượng và các chu trình vật chất (Trương Quang Học, 2008b, 2011c, 2013). - Hệ sinh thái - xã hội (Socio-ecological system): một biến thể của hệ sinh thái nhân văn, nhấn mạnh yếu tố xã hội của loài người và được định nghĩa khái quát là một hệ gồm cả con người và tự nhiên, một đơn vị Sinh - Vật - Địa và các yếu tố xã hội, thể chế kèm theo. Hệ sinh thái - xã hội là hệ thống phức tạp nhất, trong đó, tùy theo góc độ và phạm vi nghiên cứu mà các đặc trưng khác nhau được nhấn mạnh.
- Tài nguyên nước: Theo “Thuật ngữ thuỷ văn và môi trường nước”, tài nguyên nước là lượng nước trên một vùng đã cho hoặc lưu vực, biểu diễn ở dạng nước có thể khai thác (nước mặt và nước dưới đất) mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau. TNN bao gồm tài nguyên nước ngọt (nước mặt, dòng chảy ngầm, nước ngầm) và tài nguyên nước mặn (tài nguyên biển). - Nước mặt: bao gồm nước lưu thông hoặc chứa trên bề mặt lục địa. Nước mặt có nguồn gốc từ lớp nước dưới sâu mà sự xuất hiện của nó tạo nên các sông, suối, ao, hồ.
Chúng được hợp lại thành dòng nước đặc trưng bằng một mặt tiếp xúc nước – khí quyển và chuyển động với tốc độ đáng kể. Nước mặt có thể được chứa vào các bể chứa tự nhiên ( sông, ao, hồ.) hoặc nhân tạo ( các đập nước) được đặc trưng bằng bề mặt trao đổi nước – khí quyển, hầu như bất động có chiều sâu đáng kể và thời gian dừng lại khá lớn. Việc dự trữ nước mặt tại các bể chứa, đập để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau trong đó có xử lý nước sinh hoạt. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nước ngầm (nước dưới đất): là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người.
Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng sâu. Ðặc điểm chung của nước ngầm là khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình. Nước ngầm tầng mặt thường không có lớp ngăn cách với địa hình bề mặt. Do vậy, thành phần và mực nước biến đổi nhiều, phụ thuộc vào trạng thái của nước mặt.
Loại nước ngầm tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm. Nước ngầm tầng sâu thường nằm trong lớp đất đá xốp được ngăn cách bên trên và phía dưới bởi các lớp không thấm nước (https://tusach. - Nước an toàn (nước sạch): là nước sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thoả mãn các yêu cầu chất lượng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa thành phần có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi (theo quy chuẩn quốc gia là nước đáp ứng các chỉ tiêu theo quy định của Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt – QCVN 02:2009/BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 17/6/2009). Tổng quan về tác động của biến đổi khí hậu tới tài nguyên nước trên thế giới Có rất nhiều các tài liệu nghiên cứu, hướng dẫn khác nhau đề cập tới các tác động của BĐKH và TNN, cũng như quản lý TNN.
Brekke (2009, trang 5) khẳng định, BĐKH và những tác động tiềm tàng của nó đến TNN trở thành chủ đề ngày càng được quan tâm của các nhà khoa học, các nhà quản lý TNN ở nhiều diễn đàn trên thế giới (USACE,1802; USGS, 1879, NOAA, 1970,.) BĐKH toàn cầu kéo theo những thay đổi về TNN và các dịch vụ về nước. TNN và các dịch vụ về nước tác động đến hạn hán, lũ lụt, bão, tan băng, mực nước biển dâng và các lĩnh vực trực tiếp sử dụng nước. GPPN (2009) cũng chỉ ra rằng có sự kết giữa nguồn nước cấp, vệ sinh, thực phẩm, năng lượng, sức khỏe dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển của con người và an ninh, sụt giảm nguồn nước, lũ lụt, suy giảm năng suất thấp và nhiều hiện tượng khí hậu cực đoan khác. Đến GWP (2013) đã có thể khẳng định TNN được coi là thành phần/yếu tố chuyển giao đầu tiên các tác động của BĐKH đến xã hội và môi trường; là trung gian để BĐKH tác động đến con 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người, hệ sinh thái và nền kinh tế (Bảng 1.
Mở rộng hơn, IUCN và CPWC (2014), CapNet (2014) và EPA (2015) khẳng định, BĐKH thường được quan tâm như một vấn đề môi trường, trong đó có TNN; vai trò trung tâm của TNN liên quan trực tiếp tới BĐKH và là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, phát triển kinh tế, an ninh xã hội. Rõ ràng, các yêu cầu về TNN đang trở thành trung tâm của các chính sách, kế hoạch và các hành động thích ứng. Quản lý tài nguyên nước dựa vào cộng đồng Khái niệm về sự tham gia của cộng đồng trong sử dụng nước lần đầu tiên được giới thiệu chính thức tại Hội nghị Thế giới về Nước năm 1977 ở Achentina cho Chương trình quốc tế Thập kỷ về cung cấp nước sạch và vệ sinh trong những năm 1980. Sau đó, ý tưởng về quản lý nước bởi cộng đồng và phi tập trung hóa trong cấp nước tiếp tục được thử nghiệm, củng cố và lan rộng trong thập kỷ 1990, đặc biệt ở các nước đang phát triển sau các sự kiện Hội nghị tư vấn toàn cầu về nước sạch tổ chức ở New Delhi (1990) và Tuyên bố Dublin về nước và phát triển bền vững (1992), Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất ở Rio de Janiero (1992).
Một trong 6 tuyên bố chính thức của Hội nghị quốc tế về nước ngọt ở CHLB Đức (2001) đã xác nhận tầm quan trọng của quản lý dựa vào cộng đồng rằng: “Phi tập trung hóa là cốt lõi. Địa phương là nơi để chính sách quốc gia đáp ứng nhu cầu của cộng đồng”. Biến đổi khí hậu và tài nguyên nước Thu Lập kế Quản lý Kỹ thuật Quản Tài Nâng thập và hoạch tổng hợp thích trị và chính cao chia sẻ phát triển tài ứng tốt thích cho năng thông kinh tế xã nguyên hơn ứng thích lực tin khí hội và nước BĐKH ứng thích hậu thích ứng BĐKH ứng BĐKH Cung cấp nước + ++ o ++ + O ++ và vệ sinh Nước và lương thực, thực +++ ++ o O + +++ +++ phẩm Nước và năng + ++ ++ ++ ++ ++ ++ lượng Nước và tài nguyên, môi ++ ++ +++ + +++ + ++ trường Nước và +++ + o O ++ + +++ thương mại Nguồn: IUCN, CPWC, 2014, trang 18 (Ghi chú: o, +, ++, +++: mức độ được quan tâm áp dụng tăng) 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý TNN dựa vào cộng đồng (Community-based Water Resources Management-CBWRM) thường được đặt trong bối cảnh quản lý TNN tổng hợp.