Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp nhiệt điện đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đóng góp từ 48% đến 52% tổng sản lượng điện toàn quốc với tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện năng duy trì từ 12% đến 15% mỗi năm. Tuy nhiên, hoạt động đốt than phát điện quy mô lớn đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng về phát thải khí nhà kính, ô nhiễm bụi lơ lửng, nước thải công nghiệp và áp lực lưu trữ tro xỉ. Nhà máy Nhiệt điện Đông Triều – TKV (tỉnh Quảng Ninh) được đầu tư xây dựng với tổng số vốn 9.315 tỷ đồng (tương đương 577 triệu USD), tổng công suất thiết kế 440 MW gồm 2 tổ máy, cung cấp khoảng 2,86 tỷ kWh điện thương phẩm hàng năm cho lưới điện quốc gia. Nhà máy chiếm diện tích mặt bằng 72 ha, vận hành trên địa bàn ba xã Bình Khê, Xuân Sơn và Tràng An, tiêu thụ trung bình 135.000 tấn than cám chất lượng thấp mỗi tháng (tương đương 1,62 triệu tấn than/năm) từ các mỏ than nội địa lân cận như Mạo Khê, Tràng Bạch, Khe Chuối và Hồ Thiên.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện thực trạng chất lượng môi trường không khí, môi trường nước và chất thải rắn trong giai đoạn vận hành từ năm 2012 đến tháng 3/2017, đồng thời phân tích hiệu lực của các công cụ quản lý môi trường hiện hành tại cơ sở. Trên cơ sở đó, luận văn xác định các điểm nóng môi trường cục bộ, làm rõ mối tương quan giữa hiệu suất chuyển hóa năng lượng với tỷ lệ phát thải, và đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật theo định hướng sản xuất sạch hơn. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa cụ thể các chỉ số phát thải, tối ưu hóa việc tái sử dụng 100% tro xỉ làm vật liệu xây dựng theo Quyết định 1696/QĐ-TTg, và cung cấp căn cứ khoa học giúp nhà máy cắt giảm phát thải ô nhiễm, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ngành nhiệt điện than.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu tích hợp hai khung lý thuyết nền tảng trong quản trị môi trường công nghiệp: Lý thuyết Sản xuất sạch hơn (Cleaner Production - CP) do UNEP/UNIDO khởi xướng và Lý thuyết Đánh giá vòng đời công nghệ nhiệt điện (Life Cycle Assessment - LCA). Mô hình nghiên cứu vận dụng cấu trúc cân bằng vật chất và năng lượng để theo dõi toàn bộ dòng nguyên liệu đầu vào (than antraxít nhiệt trị thấp, đá vôi, dầu đốt phụ) và dòng sản phẩm, chất thải đầu ra (điện năng, khói thải, nước thải, xỉ đáy lò, tro bay).

Nghiên cứu chuẩn hóa và phân tích 4 khái niệm kỹ thuật cốt lõi:

  1. Công nghệ lò hơi tầng sôi tuần hoàn (Circulating Fluidized Bed - CFB): Công nghệ đốt cháy nhiên liệu ở dải nhiệt độ tối ưu 850°C - 900°C, cho phép đốt than cám xấu có hàm lượng tro cao tới 30,32% mà vẫn đạt hiệu suất cao, đồng thời khử trực tiếp khí lưu huỳnh ngay trong buồng lửa bằng việc bổ sung bột đá vôi.
  2. Hệ thống lọc bụi tĩnh điện (Electrostatic Precipitator - ESP): Thiết bị phân tách hạt bụi ra khỏi dòng khí thải dựa trên nguyên lý ion hóa trường điện từ cao áp, đạt hiệu suất thu hồi bụi trên 99,8%.
  3. Hệ số phát thải (Emission Factor - EF): Đại lượng định lượng khối lượng chất ô nhiễm phát sinh trên một đơn vị khối lượng nhiên liệu hoặc sản phẩm điện năng (g/kg hoặc kg/tấn than).
  4. Hệ thống quản lý môi trường tích hợp: Cơ chế điều hành kết hợp công cụ pháp lý (QCVN, ĐTM), công cụ kinh tế (thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường) và công cụ kỹ thuật kiểm soát liên tục 24/7.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp dài hạn và dữ liệu sơ cấp thực địa:

  • Nguồn dữ liệu: Chuỗi số liệu quan trắc môi trường định kỳ 5 năm liên tục từ năm 2012 đến tháng 3/2017 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh thực hiện; kết hợp số liệu thống kê sản xuất, nhật ký tiêu thụ 1,62 triệu tấn than/năm và báo cáo vận hành kỹ thuật nội bộ của Nhà máy Nhiệt điện Đông Triều - TKV.
  • Cỡ mẫu và mạng lưới lấy mẫu: Mạng lưới quan trắc môi trường không khí nội vi gồm 9 điểm lấy mẫu đặc trưng (nhà điều hành KV1, phân xưởng sản xuất KV2, khu vực hàng rào KV3, kho than KV4, kho đá vôi KV5, trạm bơm KV7, trạm xử lý nước thải bãi xỉ KV10, bãi xỉ gần xilo KV11, bãi đỉnh đập KV12); mạng lưới không khí xung quanh gồm 3 trạm quan trắc dân cư (KK6 đường giao thông, KK8 thôn Đông Sơn, KK9 xã Bình Khê); cùng các điểm quan trắc nước thải sinh hoạt (quy mô 332 công nhân viên), nước thải công nghiệp và mẫu đất bãi thải.
  • Phương pháp chọn mẫu: Phương pháp chọn mẫu điểm cố định đại diện không gian theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quan trắc môi trường, bảo đảm tính liên tục theo chu kỳ thời gian và tính bao quát các công đoạn có nguy cơ phát tán ô nhiễm cao.
  • Phương pháp phân tích: Ứng dụng phương pháp cân bằng vật chất kết hợp công thức xác định hệ số phát thải của Viện Môi trường và Tài nguyên để tính toán tải lượng ô nhiễm không khí; phương pháp thống kê mô tả và phân tích tương quan chuỗi thời gian trên phần mềm Microsoft Excel. Phương pháp phân tích này được lựa chọn vì cho phép xử lý khối lượng dữ liệu đa chiều, so sánh trực quan sai lệch giữa nồng độ thực tế với các ngưỡng giới hạn theo QCVN 05:2013/BTNMT, QCVN 40:2011/BTNMT và Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT. Ngoài ra, phương pháp chuyên gia được triển khai qua tham vấn sâu 2 chuyên gia đầu ngành thuộc Sở TN&MT Quảng Ninh và Phòng An toàn - Môi trường của nhà máy để kiểm định tính khả thi của các đề xuất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích chuỗi số liệu quan trắc môi trường giai đoạn 2012 - 2017 tại Nhà máy Nhiệt điện Đông Triều – TKV ghi nhận 4 phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, về môi trường không khí làm việc và tiếng ồn nội vi, nồng độ các chất khí độc hại duy trì ở mức an toàn nhưng ghi nhận hiện tượng ô nhiễm tiếng ồn cục bộ. Trong đợt quan trắc tháng 3/2017, nồng độ CO tại 9 vị trí dao động từ 2,50 đến 6,12 µg/m3, thấp hơn rất nhiều so với ngưỡng giới hạn 40 µg/m3 theo Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT. Tuy nhiên, mức áp suất âm thanh tại phân xưởng sản xuất (vị trí KV2) đo được 86,5 dBA, vượt 1,02 lần giới hạn cho phép (85 dBA). Diễn biến các chỉ tiêu vi khí hậu và bụi trong khuôn viên nhà xưởng qua 5 năm có xu hướng tăng nhẹ nhưng không vượt tiêu chuẩn vệ sinh lao động.

Thứ hai, chất lượng môi trường không khí xung quanh khu dân cư lân cận được kiểm soát rất tốt. Tại ba trạm quan trắc dân cư lân cận (KK6, KK8, KK9), nồng độ tổng bụi lơ lửng (TSP) chỉ đạt từ 80 đến 130 µg/m3, thấp hơn 56,7% đến 73,3% so với giới hạn quy định 300 µg/m3 của QCVN 05:2013/BTNMT. Nồng độ khí SO2 dao động ở mức 54 - 95 µg/m3 (thấp hơn quy chuẩn 350 µg/m3 từ 72,8% đến 84,5%) và NO2 chỉ từ 20 đến 40 µg/m3 (thấp hơn quy chuẩn 200 µg/m3 từ 80,0% đến 90,0%).

Thứ ba, về lưu lượng và thành phần nước thải, nhà máy phát sinh trung bình 26,56 m3 nước thải sinh hoạt/ngày đêm từ 332 công nhân viên (định mức 100 lít/người/ngày, hệ số thải 80%) và 73,8 m3 nước thải vệ sinh công nghiệp/ngày từ hoạt động bảo dưỡng 246 lượt thiết bị, phương tiện (định mức 0,3 m3/lượt). Kết quả phân tích chất lượng nước thải trước xử lý ghi nhận một số thông số vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 40:2011/BTNMT: nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) vượt 1,84 lần, hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt 1,37 lần và hàm lượng kim loại Niken (Ni) vượt 1,16 lần.

Thứ tư, công tác kiểm soát chất thải rắn và tro xỉ đạt hiệu quả cao. Với lượng tiêu thụ 1,62 triệu tấn than/năm có tỷ lệ tro 30,32%, toàn bộ lượng xỉ đáy lò (10%) và tro bay (90%) được thu gom triệt để qua hệ thống lọc bụi tĩnh điện hiệu suất trên 99,8% và đường ống vận chuyển kín, không có thông số kim loại nặng nào trong đất hay bãi xỉ vượt ngưỡng cho phép.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng vượt chuẩn tiếng ồn tại trạm KV2 (86,5 dBA) xuất phát từ rung động cơ học liên tục của hệ thống máy nghiền than, tuabin hơi 3 xi lanh 32 cấp áp lực và các quạt hút khói công suất lớn khi vận hành hết tải. Về nguồn nước thải, các chỉ số BOD (vượt 1,84 lần) và TSS (vượt 1,37 lần) tăng cao do nước rửa sàn xưởng cuốn theo lượng lớn hạt than mịn và chất cặn hữu cơ trong khi hệ thống keo tụ - lắng sơ bộ chưa đạt thời gian lưu nước tối ưu.

Khi so sánh với các nhà máy nhiệt điện đốt than phun truyền thống, các thông số phát thải khí của Đông Triều thấp hơn rõ rệt. Cụ thể, các nhà máy thế hệ cũ ghi nhận hệ số phát thải bụi lên tới 4,06 g/kg than và SO2 đạt 17,50 g/kg than. Trong khi đó, việc áp dụng công nghệ lò CFB kết hợp phun bột đá vôi trực tiếp tại buồng đốt giúp nhà máy Đông Triều khống chế hệ số phát thải SO2 ở mức 9,8 kg/tấn than và NOx ở mức 6,3 kg/tấn than (tổng tải lượng phát thải hàng năm ước tính đạt 10.206 tấn NOx và 15.876 tấn SO2).

Toàn bộ chuỗi dữ liệu môi trường này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua bảng đối chiếu ma trận dòng thải 5 năm (2012 - 2017), kết hợp biểu đồ đường thể hiện sự ổn định của các thông số TSP, SO2, NO2 xung quanh dưới ngưỡng QCVN, và biểu đồ cột so sánh mức độ vượt chuẩn của BOD, TSS trong nước thải. Điều này chứng minh rằng việc kết hợp công nghệ lò CFB, hệ thống ESP hiệu suất cao và ống khói cao 150m đã phân tán và triệt tiêu hiệu quả rủi ro ô nhiễm không khí diện rộng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực trạng, 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý môi trường đồng bộ được đề xuất nhằm tối ưu hóa hoạt động của nhà máy:

Thứ nhất, cải tạo hệ thống cách âm và giảm chấn cơ học tại khu vực phân xưởng sản xuất (KV2). Ban Giám đốc và Phòng Kỹ thuật cần tiến hành lắp đặt vỏ bọc tiêu âm chuyên dụng bằng vật liệu sợi khoáng cho các máy nghiền than và bố trí đệm lò xo giảm chấn thủy lực tại chân đế tuabin. Mục tiêu giảm áp suất âm thanh làm việc từ 86,5 dBA xuống dưới 80,0 dBA (giảm tối thiểu 7,5%), hoàn thành trong thời gian 6 tháng.

Thứ hai, nâng cấp trạm xử lý nước thải công nghiệp tập trung bằng công nghệ hóa lý kết hợp lọc sinh học màng (MBR). Phân xưởng Xử lý nước cần bổ sung bể phản ứng keo tụ - tạo bông sử dụng phèn PAC để hạ hàm lượng TSS từ mức vượt 1,37 lần xuống dưới 50 mg/l, đồng thời lắp đặt modul lọc than hoạt tính nhằm xử lý triệt để hàm lượng Niken (đưa từ mức vượt 1,16 lần về giới hạn an toàn theo QCVN 40:2011/BTNMT). Timeline thực hiện trong vòng 12 tháng do Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) cấp vốn đầu tư.

Thứ ba, tối ưu hóa hệ thống cấp đá vôi tự động và duy trì hiệu suất lọc bụi tĩnh điện ESP. Đội ngũ kỹ sư vận hành lò hơi cần ứng dụng thuật toán điều khiển tự động tỷ lệ cấp đá vôi theo hàm lượng lưu huỳnh thực tế trong than, bảo đảm hiệu suất khử lưu huỳnh đạt trên 95% và giữ tải lượng SO2 phát tán dưới 9,0 kg/tấn than. Đồng thời, duy trì quy trình kiểm tra điện áp các trường lọc bụi ESP định kỳ hàng quý, bảo đảm hiệu suất bắt giữ tro bay luôn đạt trên 99,8%.

Thứ tư, mở rộng chuỗi cung ứng tuần hoàn, thương mại hóa 100% lượng tro xỉ phát sinh. Phòng Tiêu thụ và Quản lý Vật tư cần đẩy mạnh liên kết với các doanh nghiệp sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng tại Quảng Ninh, Hải Dương để bao tiêu toàn bộ khoảng 490.000 tấn tro xỉ phát sinh hàng năm làm gạch không nung và bê tông đầm lăn, giải phóng 100% diện tích bãi chứa tạm thời trong lộ trình 9 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao, phục vụ thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Ban quản lý và kỹ sư vận hành nhà máy nhiệt điện than: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình vận hành lò hơi tầng sôi tuần hoàn (CFB), giải pháp kiểm soát khí thải SO2 bằng đá vôi và phương pháp tối ưu hóa hệ thống lọc bụi tĩnh điện ESP nhằm nâng cao hiệu suất phát điện 440 MW.
  2. Cán bộ quản lý môi trường tại các cơ quan quản lý nhà nước: Hỗ trợ chuyên viên Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh và Tổng cục Môi trường trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu kiểm toán phát thải, áp dụng hệ số phát thải thực tế (6,3 kg NOx/tấn than; 9,8 kg SO2/tấn than) để thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM).
  3. Doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và tái chế chất thải: Cung cấp số liệu phân tích thành phần hóa lý của tro bay và xỉ đáy lò than antraxít, làm căn cứ xây dựng phương án kỹ thuật tận dụng tro xỉ quy mô 490.000 tấn/năm phục vụ sản xuất phụ gia xi măng và gạch không nung.
  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Môi trường, Kỹ thuật Năng lượng: Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng 5 năm (2012 - 2017) về cân bằng dòng thải và mô hình quản lý môi trường doanh nghiệp công nghiệp nặng, làm tài liệu học tập và nghiên cứu tình huống điển hình.

Câu hỏi thường gặp

Công nghệ lò hơi tầng sôi tuần hoàn (CFB) tại Nhà máy Đông Triều có ưu thế gì vượt trội về môi trường? Lò CFB vận hành ở nhiệt độ thấp (850°C - 900°C) giúp hạn chế tối đa quá trình oxy hóa nitơ tạo thành NOx (hệ số phát thải đạt 6,3 kg/tấn than). Đồng thời, việc nạp trực tiếp bột đá vôi vào buồng đốt giúp khử ngay SO2 với hiệu suất cao mà không cần bổ sung hệ thống khử lưu huỳnh ướt phức tạp phía sau.

Mức độ ô nhiễm tiếng ồn tại khu vực sản xuất của nhà máy được ghi nhận như thế nào? Theo kết quả quan trắc tại 9 vị trí trong nhà máy, điểm phân xưởng sản xuất (KV2) ghi nhận mức ồn 86,5 dBA, vượt 1,02 lần so với tiêu chuẩn 85 dBA theo Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT. Nguyên nhân do tiếng ồn cơ học phát sinh từ cụm máy nghiền than và tuabin 32 cấp áp lực.

Nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp của nhà máy phát sinh với lưu lượng bao nhiêu? Lưu lượng nước thải sinh hoạt của 332 cán bộ công nhân viên phát sinh trung bình 26,56 m3/ngày đêm. Nước thải vệ sinh thiết bị công nghiệp phát sinh khoảng 73,8 m3/ngày đêm từ hoạt động xịt rửa 246 phương tiện và thiết bị chuyên dụng.

Các thông số nào trong nước thải của nhà máy cần được cải tạo xử lý? Kết quả phân tích mẫu nước thải định kỳ chỉ ra 3 thông số vượt ngưỡng quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT: BOD vượt 1,84 lần, tổng chất rắn lơ lửng (TSS) vượt 1,37 lần và hàm lượng kim loại Niken vượt 1,16 lần, đòi hỏi phải nâng cấp hệ thống lắng lọc hóa lý.

Chất lượng không khí tại các khu dân cư xung quanh nhà máy có bảo đảm an toàn không? Số liệu quan trắc giai đoạn 2012 - 2017 tại 3 trạm dân cư lân cận (thôn Đông Sơn, xã Bình Khê) khẳng định chất lượng không khí rất tốt. Nồng độ bụi TSP dao động 80 - 130 µg/m3 (thấp hơn 56,7% - 73,3% so với giới hạn 300 µg/m3 của QCVN 05:2013/BTNMT) và nồng độ SO2 chỉ đạt 54 - 95 µg/m3.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng phát thải của Nhà máy Nhiệt điện Đông Triều – TKV công suất 440 MW, tiêu thụ 1,62 triệu tấn than/năm trên diện tích 72 ha.
  • Công nghệ lò hơi tầng sôi tuần hoàn (CFB) kết hợp hệ thống lọc bụi tĩnh điện ESP (hiệu suất trên 99,8%) và ống khói cao 150m đã kiểm soát xuất sắc chất lượng không khí xung quanh, giữ nồng độ TSP (80 - 130 µg/m3) và SO2 (54 - 95 µg/m3) thấp hơn nhiều so với quy chuẩn QCVN 05:2013/BTNMT.
  • Nghiên cứu chỉ ra chính xác hai điểm nghẽn môi trường cần khắc phục: tiếng ồn khu vực sản xuất đạt 86,5 dBA (vượt 1,02 lần quy định) và nước thải có BOD vượt 1,84 lần, TSS vượt 1,37 lần so với tiêu chuẩn xả thải.
  • Hệ thống 4 giải pháp kỹ thuật đồng bộ được đề xuất tập trung vào tiêu âm giảm ồn, nâng cấp module keo tụ lắng lọc nước thải, tối ưu hóa định lượng đá vôi khử SO2 và thương mại hóa 100% lượng tro xỉ phát sinh theo Quyết định 1696/QĐ-TTg.
  • Kế hoạch hành động chi tiết đặt ra lộ trình hoàn thành các hạng mục xử lý môi trường trong vòng 6 đến 12 tháng, tạo tiền đề vững chắc để doanh nghiệp chuyển đổi thành công sang mô hình nhiệt điện sinh thái và kinh tế tuần hoàn.