ĐẶT VẤN ĐỀ Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Hai mặt Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đƣờng biên giới dài 333,403 km. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Phía nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn.
Theo chiều Bắc- Nam là 80 km, từ 23°07'12" - 22°21'21" vĩ bắc (tính từ xã Trọng Con huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm). Theo chiều đông- tây là 170 km, từ 105°16'15" - 106°50'25" kinh đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang), (xã Trƣơng Lƣơng - Hòa An là trung tâm của tỉnh) Tỉnh Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km², là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600- 1.300 m so với mặt nƣớc biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh.
Từ đó hình thành nên 3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm. Trên địa bàn tỉnh có hai dòng sông lớn là sông Gâm ở phía tây và sông Bằng ở vùng trung tâm và phía đông, ngoài ra còn có một số sông ngòi khác nhƣ sông Quây Sơn, sông Bắc Vọng, sông Nho Quế, sông Năng, sông Neo hay sông Hiến. Cao Bằng hiện nay đang trên con đƣờng hội nhập và phát triển với những khu du lịch và thám cảnh đƣợc đầu tƣ xây dựng. Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của khu đô thị, vẫn còn những làng nghề truyền thống của ngƣời Nùng phải nhắc đến nhƣ nghề làm ngói máng, nghề đan lát, nghề làm hƣơng, giấy bản, nhuộm vải chàm, rèn nông cụ.Các làng nghề này đƣợc chia theo từng cụm làng, phân chia theo từng loại sản phẩm để sản xuất phục vụ dân sinh nhƣ: Nghề làm ngói máng tại xã Tự Do, nghề đan lát ở xã Đoàn Côn; nghề làm hƣơng tại xã Quốc Dân.
Họ quy ƣớc với nhau mỗi khu vực làng đều phân chia thành cụm sản xuất nông cụ nhƣ làng rèn dao quoắm, dao thái, dao chặt; làng sản xuất búa, làng rèn liềm. Trong đó phải kể đến nghề làm hƣơng 1 có từ lâu đời tại xã Nà kéo huyện Hà Quảng. Nghề hƣơng đƣợc ngƣời dân nơi đây tìm tòi và phát triển, họ sử dụng một loại nguyên liệu rất đặc biệt làm chất kết dính tạo mùi thơm cho hƣơng ở đây đặc trƣng hơn những nơi khác. Loại nguyên liệu đƣợc ngƣời dân tìm kiếm trên các khu rừng tự nhiên, tên của nó là Kháo thơm hay còn gọi là bời lời đỏ (Litsea glutinosa) tất cả các bộ phận của bời lời đỏ đều có chất nhầy dính, nhiều nhất ở vỏ thân, thƣờng dùng để dính bột giấy, làm nhang.
Lá đƣợc dùng làm thức ăn gia súc, quả đƣợc thu hái để ép dầu làm sáp, chế xà bông. Gỗ bời lời có màu nâu vàng, cứng không mối mọt, có thể sử dụng đóng đồ dùng, làm nguyên liệu giấy hoặc làm gỗ củi,nên ngƣời dân địa phƣơng khai thác mạnh mẽ. Chính vì thế tình trạng khai thác Kháo thơm ở huyện Hà Quảng ngày càng giảm. Trƣớc tình hình khai thác quá mức nhƣ vậy nên số lƣợng loài Kháo thơm tại khu vực Huyện Hà Quảng Tỉnh Cao Bằng còn lại rất ít.
Tuy nhiên đến nay các nghiên cứu cơ bản về loài cây này trong khu vực Huyện Hà Quảng còn chƣa đƣợc quan tâm nhiều. Để có cơ sở cho việc gây trồng, bảo tồn và phát triển loài cây gỗ này là thì việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố của cây Kháo thơm là cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên kết hợp với kiến thức đã chọn ở nhà trƣờng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển cây Kháo thơm tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng”. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Nghiên cứu bảo tồn thực vật Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội hiện nay nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị đe doạ nghiêm trọng. Việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên không hợp lý đã khiến cho nhiêug loài đứng trƣớc nguy cơ bị tiêu diệt hoặc biến mất hoàn toàn. Trong những năm gần đây ở mỗi nƣớc, mỗi khu vực đều tìm tòi, thử nghiệm và lựa chọn cho mình một chính sách và chiến lƣợc quản ly tài nguyên hợp lý, tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội – chính trị, điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của mỗi dân tộc, mỗi Quốc gia mà hình thành nên một hệ thống quản lý tài nguyên khác nhau. Bảo tồn và sử dụng hợp lý các tài nguyên sinh học đã trở thành một chiến lƣợc chung trên toàn cầu.
Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hƣớng dẫn việc đánh giá bảo tồn đa dạng sinh học nhƣ: Công ƣớc ĐDSH, Hiệp Hội Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc Tế (IUCN), Chƣơng trình môi trƣờng Liên Hợp Quốc (UNEP), Quỹ Quốc Tế bảo Vệ Thiên Nhiên (WWF), Viện tài nguyên di truyền Quốc Tế… Nhiều hội nghị hội thảo đƣợc tổ chức và nhiều cuốn sách mang chỉ dẫn về công tác bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học đƣợc xuất bản nhằm cung cấp những kiến thức rộng lớn về bảo tồn và phát triển Đa dạng sinh học và rất nhiều công ƣớc Quốc Tế đã đƣợc nhiều quốc gia tham gia thƣc hiện Bảo tồn nguyên vị (in-situ) Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phƣơng pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên. Tuỳ theo đối tƣợng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi. Thông thƣờng bảo tồn ngyên vị đƣợc thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp. Ngoài ra theo chƣơng trình Giáo dục Khoa hoạc và Văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO) còn có khu di sản Thế Giới, và theo công ƣớc RAMSAR có khu bảo tồn đất ngập nƣớc 3 RAMSAR.
Tuy nhiên bảo tồn nguyên vị bao gồm cả các công việc quản lý các động thực vật hoang dã, các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngoài các khu vực bảo tồn. Trong nông nghiệp và lâm nghiệp, bảo tồn nguyên vị đƣợc hiểu là việc bảo tồn các giống loài cây trồng và cây rừng đƣợc trồng tại đồng ruộng hay các khu rừng trồng. Bảo tồn chuyển vị (ex situ) : Bảo tồn chuyển vị bao gồm các biện pháp di dời các loài cây con và các vi sinh vật ra khỏi môi trƣờng sống thiên nhiên của chúng. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lƣu trữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trƣờng hợp: (1) Nơi sinh sống bị suy thoát hay huỷ hoại không thể lƣu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng.
Bảo tồn chuyển vị bao gồm các vƣờn thực vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sƣu tập các chất mềm, mô cấy… Do các sinh vật hay các phần của cơ thể sinh vật đƣợc lƣu trữ trong môi trƣờng nhân tạo, nên chúng bị tách khỏi quá trình tiến hoá tự nhiên. Vì thế mà mối liên hệ gắn bó giữa bảo tồn chuyển vị với bảo tồn nguyên vị rất bổ ích cho công tác bảo tồn ĐDSH. Nghiên cứu sinh thái học thƣc vật Trong nghiên cứu sinh thái học nhằm quản lý rừng bền vững, một nhận xét mà nhiều nhà lâm học biêt đến là: Trong các kiến thức khoa học về các hệ sinh thái rừng còn chƣa hoàn chỉnh, việc xác định các hiểu biết về mặt lâm học, sinh thái học nhằm quản lý rừng tự nhiên theo cách giữ vững một cái nguyên vẹn là có thể chấp nhận đƣợc và có thể áp dụng cho tất cả các kiểu rừng khác nhau kể cả rừng mƣa nhiệt đới ẩm.P Odum (1975) đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật học hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống va tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với môi trƣờng đƣợc đặc biệt chú ý.
Ngoài mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh 4 trƣởng có thể định lƣợng bằng phƣơng pháp toán học thƣờng gọi là mô phỏng, phản ánh các đặc điểm, quy luật tƣơng quan phức tạp trong tự nhiên. Các phƣơng pháp thực nghiệm về sinh thái học nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài, phƣơng pháp điều tra đánh giá đƣợc trình bày trong “Thực nghiệm sinh thái học” của stephen, D. Lache (1987) đã chỉ rõ đƣợc vấn đề nghiên cứu trong sinh thái học thực vật nhƣ sự thích nghi của các điều kiện: Dinh dƣỡng, nhiệt độ, ánh sáng, chế độ ẩm, khí hậu. Khi nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái của loài đã đucợ nhiều công trình nghiên cứu về nhu cầu ánh sáng và sự thích nghi của thực vật đối với tình trạng thiếu nƣớc.
Theo đó sự thích nghi với điều kiện có 3 kiểu: một- thích nghi kiểu đã quen, hai- thích nghi do cấu tạo kiểu hạn sinh, ba- có tính chịu đựng đƣợc tác dụng của mất nƣớc. Tại Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu về sinh thái học của loài cây nhƣ: Nguyễn Bá Chất (1996) “nghiên cứu một số đặc điểmm lâm học và biện pháp kỹ thuật trồng nuôi dƣỡng cây Lát Hoa” đã kết luận: những vấn đề kỹ thuật lâm sinh là những vấn đề cấp thiết để khôi phục và phát triển loài rừng. Nguyễn Huy Sơn, Vƣơng Hữu Nhi khi nghiên cứu đặc điểm của quần thể thông nƣớc ở Đăk Lăk đã phân loại hiện trạng rừng, cấu trúc tổ thành loài và mật độ, cấu trúc tầng tán và độ tàn che. Kết luận rằng thông nƣớc có sống hỗn loài từng đám trong rừng lá rộng thƣờng xanh ở vùng đầm lầy nƣớc ngọt.
Nghiên cứu về tái sinh rừng: Tái sinh rừng là một quá trình mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây non của những cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dƣới tán rừng, chỗ trống, đất rừng sau nƣơng rẫy. Vai trò lịch sử của lớp cây non này là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu 5 thì hiệu quả tái sinh rừng đƣợc xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lƣợng cây non, đặc điểm phân bố.