CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm thông tin, hệ thống thông tin( HTTT), dữ liệu và cơ sở dữ liệu(CSDL) Thông tịn là một bộ dữ liệu được tổ chức, doanh nghiệp sử dụng một phương thức nhất định sao cho chúng mang lại một giá trị gia tăng so với giá trị vốn có của bản thân dữ liệu. Thông tin chính là dữ liệu đã qua xử lí (phân tích, tổng hợp, thống kê).TS Đàm Gia Mạnh, 2017, Giáo trình Hệ thống thông tin quản lí, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nộ ) Hệ thống thông tin là một tập hợp phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu, mạng viễn thông, con người và các quy trình thủ tục khác nhằm thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền phát thông tin trong một tổ chức, doanh nghiệp.TS Đàm Gia Mạnh, 2017, Giáo trình Hệ thống thông tin quản lí, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội) Dữ liệu là những sự kiện hoặc những quan sát về hiện tượng vật lý hoặc các giao dịch kinh doanh, dữ liệu chính là các giá trị phản ánh về sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan, bao gồm tập giá trị mà người dùng có thể chưa biết được sự liên hệ giữa các giá trị này.TS Đàm Gia Mạnh, 2017, Giáo trình Hệ thống thông tin quản lí, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội) Cơ sở dữ liệu (CSDL): tập hợp dữ liệu tương quan có tổ chức được lưu trữ trên các phương tiện lưu trữ như đĩa từ, băng từ v.v nhằm thỏa mãn các yêu cầu khai thác thông tin (đồng thời) của nhiều người sử dụng và của nhiều chương trình ứng dụng.
Khái niệm an toàn và bảo mật CSDL Một hệ thống thông tin được coi là an toàn( security) khi thông tin không bị làm hỏng hóc,không bị sửa đổi, thay đổi, sao chép hoặc xóa bỏ bởi người không được phép. (Bộ môn Công nghệ thông tin (2010), Bài giảng An toàn và bảo mật thông tin doanh nghiệp, Trường ĐH Thương Mại) Một hệ thống thông tin an toàn thì các sự cố có thể xảy ra không thể làm cho hoạt động chủ yếu của nó ngừng hẳn và chúng sẽ được khắc phục kịp thời mà không gây thiệt hại đến mức độ nguy hiểm cho chủ sở hữu. (Bộ môn Công nghệ thông tin (2010), Bài giảng An toàn và bảo mật thông tin doanh nghiệp, Trường ĐH Thương Mại) 4 Bảo mật là sự hạn chế khả năng lạm dụng tài nguyên và tài sản. Bảo mật trở nên đặc biệt phức tạp trong quản lý, vận hành những hệ thống thông tin có sử dụng các công cụ tin học, nơi có thể xảy ra và lan tràn nhanh chóng việc lạm dụng tài nguyên (các thông tin di chuyển vô hình trên mạng hoặc lưu trữ hữu hình trong các vật liệu) và lạm dụng tài sản (các máy tính, thiết bị mạng, thiết bị ngoại vi, các phần mềm của cơ quan hoặc người sở hữu hệ thống).
(Bộ môn Công nghệ thông tin (2010), Bài giảng An toàn và bảo mật thông tin doanh nghiệp, Trường ĐH Thương Mại) Bảo mật thông tin là duy trì tính bí mật, tính trọn vẹn và tính sẵn sàng của thông tin + Bí mật nghĩa (Confidentially) là đảm bảo thông tin chỉ được tiếp cận bởi những người được cấp quyền tương ứng. + Tính trọn vẹn (Integrity) là bảo vệ sự chính xác hoàn chỉnh của thông tin và thông tin chỉ được thay đổi bởi những người được cấp quyền. + Tính sẵn sàng (Availabillity) của thông tin là những người được quyền sử dụng có thể truy xuất thông tin khi họ cần. (Bộ môn Công nghệ thông tin (2010), Bài giảng An toàn và bảo mật thông tin doanh nghiệp, Trường ĐH Thương Mại) Bảo mật CSDL chính là việc bảo về được thông tin trong CSDL tránh được những truy cập trái phép đến CSDL, từ đó có thể thay đổi hay suy diễn nội dung thông tin CSDL.
Một số lý thuyết về vấn đề nghiên cứu 1. Các yêu cầu của một hệ thống thông tin an toàn Thông tin là tài sản vô giá của doanh nghiệp, do đó rủi ro thông tin của mỗi doanh nghiệp có thể gây thất thoát tiền bạc, tài sản, con người gây thiệt hại đến hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp; ảnh hưởng đến uy tín và sự phát triển của doanh nghiệp nhưng lại là vấn đề rất khó tránh khỏi. Trong mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp việc thu thập và nắm bắt thông tin là vấn đề hết sức quan trọng. Nó là một trong những yếu tố mang lại sự thành công cho mỗi tổ chức, mỗi cá nhân biết tận dụng và khai thác nó.
Chính vì vậy, một HTTT được gọi là an toàn khi đảm bảo các yêu cầu sau: -Tính tin cậy: chỉ có người dùng có thẩm quyền mới được truy nhập thông tin. -Tính toàn vẹn: thông tin chỉ có thể được sửa đổi bởi những người dùng có thẩm quyền. 5 -Tính sẵn sàng: thông tin có thể truy nhập bởi người dùng hợp pháp bất cứ khi nào họ yêu cầu. Hình thức tấn công HTTT Các hình thức tấn công có thể kể đến là hình thức tấn công thụ động và tấn công chủ động.
Có thể hiểu đó là hình thức lấy cắp hoặc thay đổi, phá hoại dữ liệu trái phép. Vi phạm tính toàn vẹn, sẵn sàng dữ liệu. Hình thức tấn công thụ động là việc kẻ tấn công lấy được thông tin trên đường truyền mà không gây ảnh hưởng gì đến thông tin được truyền từ nguồn đến đích. Tấn công thụ động rất khó phát hiện và khó phòng tránh nên rất nguy hiểm.
Hiện nay tấn công thụ động đang ngày càng phát triển do đó cần có các biện pháp phòng tránh trước khi tấn công xảy ra. Tấn công thụ động có các phương thức sau: thực hiện bằng các thiết bị phần cứng (các thiết bị bắt sóng wifi để tóm những gói tin được truyền trong vùng phủ sóng); hoặc thực hiện bằng các chương trình phần mềm (chương trình packet sniff nhằm bắt các gói tin được truyền qua lại trong mạng LAN). Tấn công thụ động là loại tấn công mà thông tin tài khoản bị đánh cắp được lưu lại để sử dụng sau. Tấn công thụ động gồm 2 loại sau: -Nghe trộm đường truyền: Kẻ nghe lén sẽ bằng một cách nào đó xen ngang được quá trình truyền thông điệp giữa máy gửi và máy nhận, qua đó có thể rút ra được những thông tin quan trọng.
Một số phương pháp: Bắt gói tin trong mạng wifi Bắt thông điệp trong mạng quảng bá Đánh cắp password Xem lén thư điện tử Biện pháp phòng chống: Bảo mật đường truyền: sử dụng các giao thức SSL,SET, WEP,… Mã hóa dữ liệu: sử dụng các phương pháp mã hóa, cơ chế dùng chữ kí điện tử. -Phân tích lưu lượng: dựa vào sự thay đổi của lưu lượng của luồng thông tin truyền trên mạng nhằm xác định được một số thông tin có ích; rất hay dùng trong do thám; sử dụng khi dữ liệu bị mã hóa mà không giải mã được. Biện pháp ngăn chặn: độn thêm dữ liệu thừa -> lưu lượng thông tin không bị thay đổi -> không thể phán đoán được. 6 Hình thức tấn công chủ động: là hình thức tấn công có sự can thiệp vào dữ liệu nhằm sửa đổi, thay thế, làm lệch đường đi của đường truyền.
Đặc điểm của nó là có khả năng chặn các gói tin trên đường truyền, dữ liệu từ nguồn đến đích sẽ bị thay đổi. Tấn công chủ động tuy nguy hiểm nhưng lại dễ phát hiện được. Các loại hình thức tấn công chủ động: -Giả mạo người gửi: lấy cắp password, tài khoản, phá hủy dữ liệu. Chỉ áp dụng với mạng bảo mật kém, không có mã hóa hay xác thực.
Ngăn chặn: sử dụng những phương pháp để xác thực cả 2 bên gửi và nhận -> hệ thống xác thực, nguyên tắc bắt tay. -Thay đổi thông điệp: chặn thông điệp trên đường truyền, thay đổi nội dung và tiếp tục gửi cho người nhận. Ngăn chặn: mã hóa dữ liệu trước khi gửi, sử dụng chữ kí điện tử để đảm bảo tinh toàn vẹn cho thông điệp. -Tấn công lặp lại: kẻ tấn công bắt và lưu thông điệp lại một thời gian, đến một thời điểm thích hợp gửi lại cho bên nhận => bên nhận khó phát hiện.
Ngăn chặn: sử dụng mã hóa hoặc chữ kí điện tử có thêm thời gian gửi vào trong thông báo => bên gửi phát hiện nếu thông báo bị lặp lại dựa vào trường thời gian này. -Tấn công từ chối dịch vụ( DoS): là tên gọi chung của kiểu tấn công làm cho một hệ thống nào đó bị quá tải dẫn tới không thể cung cấp dịch vụ hoặc phải ngưng hoạt động. Đặc điểm: Lợi dụng sự yếu kém trong mô hình bắt tay 3 bước của TCP/IP Liên tục gửi các gói tin yêu cầu kết nối đến server Server bị quá tải dẫn đến không thể phục vụ các kết nối khác Các kiểu DoS: Tấn công từ chối dịch vụ cổ điển DoS: là một phương pháp tấn công từ chối dịch vụ xuất hiện đầu tiên với các kiểu tấn công như Smurf Attack, Tear Drop, SYN Attack,…Các kiểu tấn công này thường được áp dụng đối với đối tượng tấn công là hệ thống máy chủ bảo mật kém, băng thông ( bandwidth) yếu, thậm chí trong nhiều trường hợp đối tượng tin tặc có thể sử dụng đường truyền có tốc độ vừa phải cũng có thể thực hiện thành công các kiểu tấn công này. Tấn công từ chối dịch vụ phân tán DDoS ( Distributed Denial of Service ): Hầu hết các cuộc tấn công DDoS nhằm vào việc chiếm dụng băng thông gây nghẽn mạng hệ thống, dẫn đến ngưng hoạt động hệ thống.
Để thực hiện DDoS, kẻ tấn công tìm cách chiếm dụng và điều khiển nhiều máy tính/ mạng máy tính trung gian được gọi là botnet ( đóng vai trò là zombie ) từ nhiều nơi để đồng loạt gửi ào ạt các gói 7 tin ( packet ) với số lượng rất lớn nhằm chiếm dụng tài nguyên và làm tràn ngập đường truyền của một mục tiêu xác định nào đó. Tấn công từ chối dịch vụ phản xạ nhiều vùng DRDoS ( Distributed Reflection Denial of Service ): là kiểu tấn công kiểu mới nhất, mạnh nhất trong các kiểu tấn công DoS. Trong suốt quá trình máy chủ bị tấn công bằng DRDoS, không một máy khách nào có thể kết nối được vào máy chủ đó. Tất cả các dịch vụ chạy trên nền TCP/IP như DNS, HTTP, FTP, POP3,…đều bị vô hiệu hóa.
Về cơ bản, DRDoS là sự phối hợp giữa 2 kiểu DoS và DDoS. Nó có kiểu tấn công SYN với một máy tính đơn, vừa có sự kết hợp giữa nhiều máy tính để chiếm dụng băng thông như kiểu DDoS.