Tổng quan nghiên cứu

Ninh Thuận là địa phương có khí hậu bán khô hạn đặc thù với lượng mưa trung bình năm thấp nhất cả nước. Toàn tỉnh hiện có 21 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích thiết kế 190,53 triệu m3, phục vụ tưới cho khoảng 16.692 ha đất canh tác. Tuy nhiên, tình trạng biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp khiến lượng mưa có thời điểm suy giảm 40% đến 50% so với trung bình nhiều năm; đợt hạn hán khốc liệt năm 2014 ghi nhận lượng mưa đầu năm chỉ đạt 10mm, gây thiệt hại nghiêm trọng cho 3.159 ha cây trồng và khiến 8/20 hồ chứa rơi vào tình trạng dưới mực nước chết.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ sự mất cân đối nguồn nước nghiêm trọng tại lưu vực sông Lu (diện tích 435 km2). Trong khi hồ Tân Giang (dung tích 13,39 triệu m3) thường xuyên dư thừa dòng chảy và phải xả tràn hàng triệu m3 nước ra biển trong mùa mưa, thì hồ Sông Biêu (dung tích 23,78 triệu m3, cách hồ Tân Giang khoảng 5,5 km) lại luôn thiếu hụt lượng nước đến, không thể tích đầy để phục vụ diện tích tưới theo thiết kế.

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu, đề xuất giải pháp công trình và phi công trình nhằm liên thông chuyển nước từ hồ Tân Giang sang hồ Sông Biêu, nâng cao năng lực cấp nước và kiểm toán toàn diện điều kiện an toàn cụm công trình đầu mối đập Trà Van và hệ thống tràn xả lũ. Nghiên cứu thực hiện trên phạm vi lưu vực sông Lu tỉnh Ninh Thuận dựa trên chuỗi dữ liệu thủy văn thực tế 28 năm. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn, giúp tăng hiệu quả khai thác hồ chứa thêm 25% đến 30%, giải quyết triệt để bài toán thiếu nước cho hơn 4.300 ha cây trồng hạ du mà không cần đầu tư hàng trăm tỷ đồng xây mới cụm đầu mối.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hệ thống lý thuyết thủy lực, địa kỹ thuật công trình thủy và quy hoạch tài nguyên nước hiện đại. Trọng tâm gồm lý thuyết dòng thấm hai chiều không ổn định qua môi trường rỗng (định luật Darcy và phương trình vi phân thấm Laplace) nhằm mô phỏng đường bão hòa trong thân đập đất đồng chất; lý thuyết cân bằng giới hạn phân tích ổn định trượt mái dốc đất đá (phương pháp lát cắt của Bishop và Morgenstern-Price); và lý thuyết điều tiết dòng chảy hồ chứa đa mục tiêu dựa trên nguyên lý cân bằng nước liên lưu vực của Rippl kết hợp phương pháp tối ưu hóa Pareto.

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Mực nước dâng bình thường (MNDBT), Mực nước lớn nhất thiết kế (MNLNTK), Mực nước lớn nhất kiểm tra (MNLNKT), Gradien thấm thủy lực giới hạn (Jcp), Hệ số an toàn ổn định trượt mái dốc (Kcp), và Hệ số lưu lượng xả m của đập tràn đặc biệt kiểu Labyrinth. Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn đập đất và quy trình quản lý vận hành hồ chứa theo TCVN 8414-2010 được áp dụng xuyên suốt làm thước đo đánh giá độ tin cậy công trình.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào sử dụng chuỗi số liệu khí tượng thủy văn đo đạc liên tục suốt 28 năm tại các trạm thủy văn lưu vực sông Lu, kết hợp tài liệu khảo sát địa chất công trình, địa hình lòng hồ và mặt cắt hình học đập chính Trà Van thuộc hồ Sông Biêu. Phương pháp chọn mẫu tập trung vào mặt cắt bất lợi nhất tại lòng suối sâu (mặt cắt MC D8) để kiểm toán các kịch bản chịu tải trọng thủy lực khắc nghiệt nhất.

Phương pháp tính toán mô phỏng số được thực hiện thông qua bộ phần mềm địa kỹ thuật chuyên dụng GeoSlope (mô đun Seep/W tính thấm và Slope/W tính ổn định mái dốc). Lý do lựa chọn bộ công cụ này là khả năng mô phỏng chính xác mạng lưới thấm phi tuyến, phản ánh chân thực vị trí đường bão hòa và xác định mặt trượt cung tròn nguy hiểm nhất theo các giai đoạn tích nước và tháo nước nhanh. Tiến trình nghiên cứu được triển khai đồng bộ qua ba bước: mô phỏng dòng chảy lũ thiết kế với tần suất p = 1% và tần suất kiểm tra p = 0,2%; tính toán cân bằng phân phối nước 28 năm; và mô phỏng số học kiểm toán an toàn ổn định công trình đầu mối đập đất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tính toán cân bằng nước chuỗi 28 năm xác định hồ Tân Giang có lượng nước xả thừa bình quân hàng năm từ 8,5 đến 14,2 triệu m3, trong khi hồ Sông Biêu thiếu hụt khoảng 6,8 đến 11,5 triệu m3 để đáp ứng mục tiêu tưới theo quy hoạch mới. Việc xây dựng tuyến kênh chuyển nước dài 5,5 km nối giữa hai hồ với các cấp lưu lượng chuyển tải tính toán từ 1,5 m3/s đến 3,2 m3/s hoàn toàn giải quyết triệt để lượng nước thiếu hụt cho hồ Sông Biêu.

Thứ hai, kết quả mô phỏng thủy lực và thấm tại mặt cắt MC D8 khi nâng mực nước thượng lưu lên cao trình 103,00m cho thấy: đường bão hòa dâng cao tương ứng nhưng gradien thấm tại chân khay và hạ lưu đập (J2, J3) đều nhỏ hơn gradien thấm cho phép Jcp = 0,45. Lưu lượng thấm đơn vị qua thân và nền đập duy trì ở mức an toàn q = 0,12 đến 0,18 l/s.m, hoàn toàn không xuất hiện nguy cơ xói ngầm hay bùng nền.

Thứ ba, phân tích ổn định cơ học mái đập bằng Slope/W cho thấy hệ số an toàn trượt mái hạ lưu nhỏ nhất đạt Kmin = 1,38 đến 1,46 trong trường hợp mực nước dâng cao nhất, và hệ số an toàn mái thượng lưu khi mực nước rút nhanh đạt Kmin = 1,31, đều thỏa mãn tiêu chuẩn an toàn cho phép (Kcp >= 1,30).

Thứ tư, qua so sánh các phương án điều tiết lũ kiểm tra tần suất p = 0,2%, giải pháp cải tạo ngưỡng tràn Sông Biêu hiện trạng sang tràn zích zắc (Labyrinth) chiều rộng Btr = 19,25m giúp tăng hệ số lưu lượng xả lên 2,2 đến 2,8 lần so với tràn thực dụng truyền thống, giữ mực nước lũ gia tăng thấp hơn 0,45m so với phương án tràn tự do mở rộng (Btr = 55m) và tràn xả sâu (Btr = 15m).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính giúp tràn zích zắc đạt hiệu quả xả lũ vượt trội là do kéo dài tổng chiều dài đường tràn hiệu dụng trên cùng một bề rộng lòng dẫn tự nhiên, giúp triệt tiêu cột nước dâng thượng lưu mà không cần giải phóng mặt bằng mở rộng kênh dẫn hạ lưu. Kết quả tính toán này hoàn toàn tương đồng với các công trình thực tế đã áp dụng tại Việt Nam như đập tràn Sông Móng (lưu lượng xả 224,44 m3/s) và đập tràn Phước Hòa (lưu lượng xả thiết kế lên đến 8.700 m3/s).

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua hệ thống đồ thị quan hệ mực nước - dung tích (Z-V), mực nước - diện tích (Z-F), biểu đồ đường bão hòa không gian 2D, lưới đẳng gradien thấm thủy lực và biểu đồ quá trình điều tiết lũ chuỗi thủy văn. Các kết quả này chứng minh rằng việc kết hợp nâng cao trình đỉnh đập thêm 0,5m kết hợp xây tường chắn sóng bê tông cốt thép cao 0,8m là phương án tối ưu về mặt kỹ thuật, đảm bảo độ ổn định đập vượt trội và giảm thiểu 40% chi phí xây dựng so với phương án đắp áp trúc mở rộng toàn bộ thân đập.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thi công xây dựng tuyến kênh chuyển nước liên hồ Tân Giang - Sông Biêu có chiều dài khoảng 5,5 km với mặt cắt hình thang kiên cố hóa bằng bê tông M200, lưu lượng thiết kế đạt 2,5 m3/s. Chủ thể thực hiện là Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng các Công trình Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Ninh Thuận, lộ trình hoàn thành trong vòng 18 đến 24 tháng.

Thứ hai, cải tạo công trình xả lũ hồ Sông Biêu bằng giải pháp thay thế tràn tự do hiện tại bằng kết cấu đập tràn zích zắc bê tông cốt thép khẩu độ Btr = 19,25m, chiều cao ngưỡng tràn P = 3,5m. Giải pháp này giúp tăng năng lực thoát lũ kiểm tra p = 0,2%, đảm bảo khống chế mực nước lũ cao nhất không vượt qua cao trình đỉnh tường chắn sóng, hoàn thành trong giai đoạn 12 tháng.

Thứ ba, tôn cao đỉnh đập chính Trà Van kết hợp xây dựng tường chắn sóng bê tông cốt thép đạt cao trình đỉnh mới 105,20m, gia cố mái đập thượng lưu bằng tấm lát bê tông đúc sẵn trong khung dầm và cải tạo hệ thống rãnh tiêu thoát nước mái hạ lưu. Đơn vị thực hiện là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khai thác Công trình Thủy lợi Ninh Thuận, triển khai đồng bộ trong 12 tháng.

Thứ tư, ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa thời gian thực giữa Tân Giang và Sông Biêu, kết hợp lắp đặt trạm quan trắc mực nước, độ mở cửa van và hệ thống đo mưa tự động phục vụ dự báo lũ sớm. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Ninh Thuận chủ trì thẩm định và phê duyệt trong vòng 6 tháng đầu sau khi hoàn thành công trình chuyển nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm kỹ sư thiết kế công trình thủy lợi và địa kỹ thuật: Luận văn cung cấp trọn bộ phương pháp luận tính toán thủy lực tràn zích zắc, thuật toán mô phỏng thấm - biến dạng bằng GeoSlope và giải pháp kết cấu gia cố tường chắn sóng đập đất.

Cán bộ quản lý khai thác tại các công ty quản lý công trình thủy nông: Cung cấp case study thực tiễn về quy trình điều tiết nước liên lưu vực, bài toán cân bằng nước 28 năm và phương án tích lũ sớm giúp nâng cao năng suất phục vụ nông nghiệp vùng khô hạn.

Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình Thủy, Quản lý Tài nguyên Nước: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về cấu trúc nghiên cứu thực nghiệm, phương pháp xử lý số liệu khí tượng thủy văn chuyên sâu và quy chuẩn kiểm toán an toàn đập theo TCVN hiện hành.

Các cơ quan hoạch định chính sách và lập quy hoạch phát triển bền vững: Làm căn cứ khoa học cho các dự án kết nối mạng lưới thủy lợi liên vùng tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên trong bối cảnh thích ứng biến đổi khí hậu toàn cầu.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cần liên thông chuyển nước giữa hồ Tân Giang và hồ Sông Biêu? Vì hồ Tân Giang thừa nước hàng năm với lưu lượng xả lũ trung bình trên 10 triệu m3 đổ ra biển, trong khi hồ Sông Biêu cách đó 5,5 km lại thiếu nước trầm trọng không đủ cung cấp cho 1.300 ha đất canh tác. Liên thông kênh giúp tận dụng tối đa nguồn nước dư thừa mà không lãng phí tài nguyên.

Việc dâng cao mực nước hồ Sông Biêu có gây mất an toàn cho thân đập đất Trà Van không? Không gây nguy hiểm vì kết quả kiểm toán bằng phần mềm GeoSlope tại mặt cắt MC D8 ở mực nước 103,00m chứng minh hệ số an toàn trượt nhỏ nhất đạt Kmin = 1,38 (cao hơn mức yêu cầu 1,30) và gradien thấm thực tế thấp hơn nhiều so với gradien cho phép Jcp = 0,45.

Tại sao luận văn lựa chọn tràn zích zắc Labyrinth thay vì mở rộng tràn tự do thông thường? Tràn zích zắc tăng chiều dài dòng tràn hiệu dụng trong không gian hẹp, nâng hệ số lưu lượng xả lũ lên 2 đến 3 lần. Nhờ đó, công trình xả lũ đạt lưu lượng thiết kế mà không phải đào phá sườn núi mở rộng lòng dẫn hay nâng chiều cao đập đất quá lớn.

Phần mềm GeoSlope hỗ trợ giải quyết những bài toán kỹ thuật nào trong đề tài? Phần mềm thực hiện mô phỏng số học hai chiều thông qua Seep/W để vẽ chính xác mạng dòng thấm, xác định đường bão hòa trong thân đập đất và Slope/W để tìm cung trượt nguy hiểm nhất ở mái thượng, hạ lưu đập trong các điều kiện làm việc khắc nghiệt.

Giải pháp nâng cao đỉnh đập kết hợp tường chắn sóng mang lại lợi ích kinh tế gì? Giải pháp này giúp giảm khối lượng đất đắp áp trúc thân đập hơn 50%, giảm diện tích đền bù giải phóng mặt bằng, tận dụng kết cấu đập cũ và rút ngắn tiến độ thi công từ 6 đến 8 tháng so với phương án đắp mở rộng toàn diện đập.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng mất cân đối nguồn nước lưu vực sông Lu với lượng nước dư thừa tại hồ Tân Giang đạt trên 10 triệu m3/năm và tình trạng thiếu hụt nguồn nước kéo dài tại hồ Sông Biêu.
  • Xác lập cơ sở khoa học và đề xuất phương án xây dựng tuyến kênh liên thông dài 5,5 km nhằm chuyển nước bổ sung an toàn, hiệu quả kinh tế cao giữa hai lưu vực hồ chứa.
  • Kiểm toán chính xác điều kiện an toàn thấm và ổn định trượt của đập đất Trà Van bằng mô hình số Seep/W và Slope/W, xác nhận hệ số an toàn đạt từ 1,31 đến 1,46, thỏa mãn hoàn toàn quy chuẩn kỹ thuật.
  • Lựa chọn giải pháp kỹ thuật đột phá bằng kết cấu đập tràn zích zắc Btr = 19,25m kết hợp tường chắn sóng bê tông cốt thép giúp tăng khả năng xả lũ kiểm tra p = 0,2% và tiết kiệm hơn 40% kinh phí xây dựng.
  • Đề xuất quy trình vận hành liên hồ chứa đồng bộ và giải pháp quan trắc cảnh báo sớm phục vụ chiến lược cấp nước bền vững cho hơn 4.300 ha đất canh tác nông nghiệp tại tỉnh Ninh Thuận.

Về lộ trình tiếp theo, các đơn vị quản lý cần hoàn thiện hồ sơ thiết kế kỹ thuật thi công kênh dẫn và tràn xả lũ trong 6 tháng tới, đồng thời chuẩn bị nguồn vốn triển khai xây dựng trong giai đoạn 2024-2026. Hãy liên hệ với các đơn vị tư vấn thủy lợi chuyên ngành hoặc cơ quan quản lý tài nguyên nước địa phương để được chuyển giao công nghệ và áp dụng ngay các giải pháp liên thông hồ chứa an toàn vào thực tiễn sản xuất.