phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm bốn chƣơng: - Chƣơng I: Cơ sở lý luận - Chƣơng II: Đặc điểm cấu trúc thành ngữ Hán Nhật - Chƣơng III: Đặc điểm ngữ nghĩa thành ngữ Hán Nhật - Chƣơng IV: Nghiên cứu thành ngữ Hán Nhật - Hán Việt nhìn từ góc độ đối chiếu ngôn ngữ Luận án có một Phụ lục thu thập 2.220 thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tiếp xúc ngôn ngữ Tiếng Nhật là ngôn ngữ duy nhất của nƣớc Nhật. Số lƣợng ngƣời bản địa sử dụng tiếng Nhật đã vƣợt xa các ngôn ngữ khác nhƣ tiếng Đức, tiếng Pháp, và đƣợc xếp thứ sáu trên thế giới sau tiếng Hán, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Hindu.
Mặc dù tiếng Nhật là ngôn ngữ có vị trí quan trọng trên thế giới, với bề dày lịch sử bắt đầu từ thế kỷ thứ VIII, nhƣng hiện nay có nhiều truyền thuyết về tiếng Nhật, thậm chí một số truyền thuyết còn đƣợc cả ngƣời Nhật Bản và ngƣời nƣớc ngoài ghi nhớ rõ. Yếu tố chính góp phần tạo nên sự đa dạng cho các truyền thuyết về tiếng Nhật là sự cô lập. Không giống các ngôn ngữ đƣợc sử dụng ở châu Âu, châu Mỹ, châu Á, tiếng Nhật bị tách biệt về mặt địa lý với các ngôn ngữ khác, do vậy có thời kỳ bản thân nó không nhận đƣợc sự tiếp xúc ngôn ngữ nào. Về cơ bản, tiếng Nhật chỉ đƣợc dùng trên lãnh thổ Nhật Bản, không một quốc gia nào sử dụng tiếng Nhật nhƣ ngôn ngữ chính thức, hoặc ngôn ngữ thứ hai, ngoài một số ít nhóm ngƣời di cƣ đến Hawaii, Bắc và Nam Mỹ [190; 89].
Mặc dù vậy ngƣời Nhật luôn có một niềm tin mãnh liệt rằng tiếng Nhật là thứ ngôn ngữ độc đáo. Liệu tiếng Nhật có phải là một ngôn ngữ độc đáo hay không? Để có lời giải đáp thích đáng cho câu hỏi này, chúng ta còn phải bàn luận nhiều về nguồn gốc ngôn ngữ của nó. Xét về mối quan hệ các từ nguyên, so với các ngôn ngữ khác, tiếng Nhật đặc biệt ở chỗ lớp từ nguyên của nó không có nguồn gốc rõ ràng. Nó có thể đƣợc sinh ra từ sự pha trộn, kết hợp giữa hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ, điều này đối lập với các ngôn ngữ chính khác trên thế giới bởi lớp từ nguyên của nó lại đƣợc phát triển bằng cách tách ra từ ngôn ngữ mẹ.
Từ góc nhìn bao quát hơn, tính độc đáo của tiếng Nhật có thể 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đƣợc thể hiện qua vô số mã ngôn ngữ. Thứ nhất, hệ thống chữ viết trong tiếng Nhật cho phép sử dụng bốn loại chữ khác nhau để cùng miêu tả một khái niệm, đó là 漢字 Kanji/ Hán tự, ひらがな Hiragana, カタカナ Katakana, và chữ Romaji/ chữ La Mã. Trong phạm trù từ vựng học, những xu hƣớng vay mƣợn từ liên tiếp đã dẫn đến sự ra đời một số lƣợng lớn các từ sinh đôi, sinh ba cùng gốc đƣợc hợp thành bởi một từ bản địa, từ Hán - Nhật, và từ thuộc ngôn ngữ châu Âu. Thành tựu chính của tiếng Nhật trong thời kỳ Nara 奈良 (710 ~ 794) và đầu thời kỳ Heian 平安 (794~1185) là sự tiếp nhận hệ thống chữ viết mới.
Dựa trên những ứng dụng của chữ Hán, hệ thống chữ viết tiếng Nhật đã có sự phát triển trên cả hai phƣơng diện ngữ âm và ngữ nghĩa. Hệ thống chữ viết ngày nay chính là kết quả của việc đơn giản hóa các nét chữ Hán nguyên bản. Ngoài việc sử dụng chữ Hán nguyên bản, tiếng Nhật còn phát triển thêm hai hệ vần. Dạng viết tắt của chữ Hán chính là chữ viết thảo.
Chữ viết thảo là cơ sở phát triển hệ vần ひらがな Hiragana. Hệ vần カタカナ Katakana đƣợc tạo ra từ những bộ phận của 漢字 Kanji/ chữ Hán. Gần đây, bản thân chữ Hán cũng đƣợc đơn giản hóa, tạo nên nét khác biệt so với chữ Hán ban đầu. Hơn nữa, việc sử dụng dạng chữ Hán viết tắt ở Trung Quốc cũng hình thành nên những bộ chữ Hán khác nhau.
Nói đến giao thoa văn hóa là nói đến quá trình trao đổi, vay mƣợn các yếu tố văn hóa và ngôn ngữ. Tiếng Nhật cũng không nằm ngoài quy luật này, bởi nó vay mƣợn một số lƣợng lớn từ vựng của tiếng Hán. Sự vay mƣợn có hệ thống này diễn ra theo ba khuynh hƣớng mặc dù những sự vay mƣợn rời rạc trƣớc đó đã để lại những từ thâm căn cố đế trong tiếng Nhật nhƣ うま uma (ngựa), うめ ume (mận). Làn sóng vay mƣợn thứ nhất xảy ra trƣớc thời kỳ Nara khi Phật giáo đƣợc du nhập vào Nhật Bản năm 538.
Cách phát âm theo âm 呉音 Goon/ Ngô âm đã góp phần vào sự hình thành cho làn sóng vay 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mƣợn giai đoạn này. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng âm 呉音 Goon/ Ngô âm đƣợc mô phỏng theo ngôn ngữ thuộc miền nam Trung Quốc thời cổ đại [189; 926]. Vì vậy âm 呉音 Goon/ Ngô âm chính là sự phản ánh, mô phỏng cho tiếng địa phƣơng ở miền này. Làn sóng vay mƣợn từ Hán thứ hai diễn ra suốt thời kỳ Nara khi nhiều sinh viên và quan chức tòa án đến học tập ở Lạc Dƣơng và Trƣờng An - hai thành phố lớn của triều đại nhà Đƣờng.
漢音 Kanon/ Hán âm là cách phát âm mới đƣợc du nhập vào tiếng Nhật trong suốt thời kỳ này và đƣợc đánh giá là âm chuẩn của thời nhà Đƣờng thế kỷ thứ VIII. Sau đó, tiếp đến thế kỷ XIV, tiếng Nhật đƣợc tiếp xúc với một loạt từ vựng mới và cách phát âm do các tín đồ phái Thiền của Phật giáo mang lại. Sự phát âm mới này có xuất xứ từ Hàng Châu, với tên gọi 唐音 Touon/ Đường âm - 宋音 Souon/ Tống âm. Trong khi một số chữ có ba cách đọc phản ánh ba phƣơng thức vay mƣợn thì hầu hết các từ còn lại đƣợc phát âm theo lối 呉音 Goon hoặc/và 唐音 Touon - 宋音 Souon.
Hơn nữa, mỗi một kiểu phát âm lại mang nét khác biệt là do chúng đƣợc sinh ra từ các phái học giả khác nhau. Phát âm Goon thuộc dòng Phật giáo, 漢音 Kanon thuộc đạo Khổng và các học giả bình dân, còn phát âm 唐音 Touon - 宋音 Souon lại do phái Thiền đạo Phật tạo ra [190; 121]. Tuy nhiên đây chỉ là các yếu tố mang tính chất lịch sử, nói chung ngƣời Nhật không quan tâm lắm tới nguồn gốc của các cách phát âm này. Tiếng Nhật vay mƣợn tiếng Hán một cách chủ động, làm thành vốn từ 漢語 Kango/ Hán Nhật và đọc theo cách đọc riêng - gọi là cách đọc 音読み Onyomi.
Trong thời gian dài hàng thế kỷ, Nhật Bản có quan hệ với Trung Quốc nên đã tiếp thu những ảnh hƣởng rất lớn về văn hóa của Trung Quốc. Một trong những dấu ấn của ảnh hƣởng này là sự tồn tại của lớp từ gốc Hán 漢語 Kango (hay còn gọi là từ Hán Nhật) chiếm hơn 60% vốn từ tiếng Nhật. Rồi từ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cùng với việc mở rộng giao lƣu kinh tế, thƣơng mại, kỹ thuật với các nƣớc châu Âu, từ ngữ nƣớc ngoài (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hà Lan…) cũng nhanh chóng du nhập vào tiếng Nhật, tạo nên một lớp từ đặc biệt gọi là từ ngoại lai 外来語 Gairaigo. Do vậy, hiện nay về cơ bản, vốn từ tiếng Nhật gồm có 3 lớp từ: từ thuần Nhật 和語 Wago chiếm khoảng 27%, từ Hán Nhật 漢語 Kango chiếm khoảng 60% và từ ngoại lai 外来 語 Gairaigo chiếm khoảng 13%.
a) Lớp từ thuần Nhật 和語 wago Đây là lớp từ tạo nên vốn từ cơ bản của tiếng Nhật. Các từ gốc Nhật đƣợc chia làm 2 tiểu nhóm: tiểu nhóm thực từ (mang nghĩa từ vựng) và tiểu nhóm hƣ từ (thực hiện các chức năng ngữ pháp). Trong tiểu nhóm thực từ có các từ thuộc loại danh từ, chủ yếu là các từ biểu thị khái niệm cụ thể nhƣ やま yama núi, かわ kawa sông, うみ umi biển…, các động từ nhƣ 考える kangaeru suy nghĩ, 食べる taberu ăn, 習う narau học …, các tính từ nhƣ ちかい chikai gần, とおい tooi xa, たかい takai cao, ひくい hikui thấp, おいしい oishii ngon… Tất cả các từ biểu thị các kiểu ý nghĩa ngữ pháp nhƣ trợ từ, từ nối, trợ động từ… đều là từ gốc Nhật. b) Lớp từ Hán Nhật 漢語 kango Đây là những từ có nguồn gốc Hán, đƣợc gọi là 漢語 kango hoặc từ Hán Nhật.
Ngày nay, vai trò của lớp từ này vẫn cực kỳ quan trọng, trở thành một bộ phận không thể thiếu trong tiếng Nhật hiện đại. Có thể hình dung vai trò của lớp từ Hán Nhật trong tiếng Nhật gần giống nhƣ vai trò của lớp từ Hán Việt trong tiếng Việt. Phần lớn các từ Hán Nhật đều bao gồm 2 hoặc hơn 2 hình vị (đƣợc biểu thị bằng từ 2 chữ Hán trở lên). Ví dụ: 平等 byodou bình đẳng, 自由 jiyuu tự do, 独立 dokuritsu độc lập, 研究 kenkyuu nghiên cứu, 飛行機 hikouki phi hành cơ/ máy bay….
Về mặt từ loại, đa số các từ Hán 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhật là danh từ, trong đó chủ yếu là các danh từ biểu thị khái niệm trừu tƣợng nhƣ: 援助 enjo viện trợ, 観念 kannen quan niệm, 知識 chishiki tri thức, 法 律 houritsu pháp luật, 欠点 ketten khuyết điểm… Khi các danh từ có nghĩa hành động muốn hoạt động với tƣ cách là động từ thì buộc phải kết hợp với một từ thuần Nhật có chức năng chuyên biệt là する suru, tạo thành các động từ nhƣ 研究する kenkyusuru nghiên cứu, 練習する renshuusuru luyện tập… Ngoài ra có một số ít từ gốc Hán đƣợc sử dụng trong tiếng Nhật với tƣ cách là tính từ nhƣ 綺麗 kirei đẹp/ sạch sẽ, 便利 benri tiện lợi, 有命 yumei nổi tiếng… Nhƣ đã trình bày ở trên, do các từ Hán vào tiếng Nhật trong các giai đoạn khác nhau nên ngoài sự phức tạp về âm đọc, ngay cả nguồn gốc của các từ này không phải bao giờ cũng đƣợc ngƣời Nhật ý thức nhƣ nhau. Có nhiều từ vào tiếng Nhật từ xa xƣa nên ngƣời Nhật quên mất nguồn gốc Hán của chúng nhƣ từ きく(菊)kiku hoa cúc, もちろん(勿論)mochiron tất nhiên, ま く(幕)maku màn sân khấu… Có những từ vốn có nguồn gốc từ tiếng Ấn Độ cổ, sau đó đi theo con đƣờng truyền giáo, qua Trung Quốc rồi vào Nhật, do đó cũng đƣợc viết bằng chữ Hán và đƣợc chấp nhận nhƣ từ Hán.