phần mở đầu, vấn đề ý nghĩa lịch sử và giá trị nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết Don Qujote được triển khai và giải quyết trong ba chương: Chương1. Cervantes trong nền văn hóa phục hung Tây Âu Chương2.Giá trị lịch sử- tư tưởng của tiểu thuyết “Truyện nhà kỵ sĩ Don Qujote” Chương3.Giá trị nghệ thuật của tiểu thuyết “Truyện nhà kỵ sĩ Don Qujote” 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG Chương1. CERVANTES TRONG NỀN VĂN HÓA PHỤC HƯNG TÂY ÂU 1. Thời đại Phục hưng và chủ nghĩa nhân văn trong nghệ thuật Vào thế kỷ XIV– XVI thế giới Châu Âu như có một “cơn gió lạ” thổi đến làm thay đổi sâu sắc bộ mặt đời sống tinh thần và xã hội tạo thành phong trào văn hoá Phục hưng.
Đây được coi là một cuộc vận động tư tưởng và văn hoá rất mực hào hứng và quyết liệt mà cho đến bấy giờ loài người chưa từng biết tới. Italia được coi là cái nôi khai sinh ra phong trào, sau đó lan rộng sang các nước Tây Âu và Trung Âu. Phong trào văn hoá Phục hưng là một cuộc vận động sôi nổi nhằm làm sống lại những truyền thống tốt đẹp mà thời cổ đại Hi Lạp và La Mã sáng tạo ra, đã bị thời Trung cổ phong kiến và Nhà thờ cắt đứt, đồng thời phải phát huy cao hơn nữa truyền thống đó cho phù hợp với yêu cầu trước mắt. Như vậy, phong trào văn hoá Phục hưng không chỉ đơn thuần là phong trào phục cổ mà nó còn phải kế thừa, phát huy cao độ những giá trị nhân bản tốt đẹp của một thời đại hoàng kim đã chìm sâu vào lịch sử.
Vào thời trung cổ, giáo hội và nhà thờ là một thế lực thống trị hắc ám, tồn tại như một màn đêm đen tối phủ kín bầu trời phương Tây. Nó ràng buộc con người vào những luật lệ hà khắc, kìm hãm sự phát triển không cho con người được phát huy hết sức mạnh của mình. Nó truyền bá nhân sinh quan yếm thế, xem cõi đời là một thung lũng nước mắt, thiên đường mới là cuộc sống đáng hướng tới. Giá trị và quyền sống của con người bị coi khinh, nhường chỗ cho những thế lực tôn giáo thần thánh.
Vì vậy phong trào văn hoá Phục hưng dấy lên truyền thống trân trọng, đề cao con người, trái ngược hẳn với 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thái độ coi rẻ, miệt thị con người thời Trung cổ. Đó là truyền thống đấu tranh cho tự do của con người, trái ngược với nền chuyên chính, độc tài của phong kiến và giáo hội. Điều đó đã nói lên nhu cầu, khát vọng của con người mới mong muốn có một cuộc cách mạng làm thay đổi toàn bộ xã hội đương thời, đưa con người hướng tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Cuộc vận động tư tưởng và văn hoá Phục hung là một cuộc cách mạng tinh thần, có ý nghĩa công phá hệ tư tưởng phong kiến, thần quyền, thiết lập một nền tảng tư tưởng mới mang ý nghĩa nhân đạo cao cả.
Như một cơn mưa gột rửa những tối tăm bụi bặm của thời trung cổ, cầu vồng đã mọc lên báo hiệu một cuộc sống mới, đầy ánh sáng sắc màu. Phương tây như một người ngủ say bừng dậy sau đêm trường trung cổ, vững vàng tiến bước vào lịch sử cận đại. Đúng như Ănghen nhận định: “Thời đại Phục hưng là bước ngoặt tiến bộ, vĩ đại nhất từ trước tới bấy giờ loài người chưa từng thấy”. Bước ngoặt đó đã làm thay đổi mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo, tư tưởng và tinh thần.
Chính trong bối cảnh đó, văn học nghệ thuật Phục hưng đã nở hoa kết trái một mùa hoa, mùa quả hiếm có. Chủ nghĩa nhân văn chính là trào lưu tư tưởng cơ bản tạo nên những giá trị rực rỡ đó. Sau khi đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, Tây-Ban-Nha bước vào một kỷ nguyên mới phát triển mạnh mẽ. Năm 1519, Saclơcanh đã cầm đầu đế quốc La Mã thần thánh và một số thực dân địa ở châu Mỹ.
Sau khi chiến thắng đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, Tây-Ban-Nha ngày càng lớn mạnh. Trong hai thế kỷ XVI – XVII, không ít người Tây-Ban-Nha thuộc đủ mọi thành phần xã hội từ quý tộc đến nông nô đã đổ xô sang châu Mỹ và các thuộc địa khác ở châu Âu để truyền bá lý tưởng tôn giáo và nền quân chủ. Những mầm mống suy yếu nằm ngay trong chính sách đối ngoại đó đã gặp phải sự chống trả quyết liệt của các dân tộc bị nô dịch và nhân dân trong nước ngày càng phản đối gay gắt. Nhà nước quân 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chủ Tây-Ban-Nha là nhà nước chuyên chế kiểu phương Đông với cơ sở xã hội của nó là bọn quý tộc phong kiến và đẳng cấp tăng lữ.
Thị dân và nông dân không ủng hộ nhà nước đó, giai cấp quý tộc đi vào con đường tàn lụi vẫn bám giữ lấy những đặc quyền, đặc lợi của chúng. Nhà nước quân chủ ở Tây-Ban-Nha đã xây dựng một quân đội thường trực gồm cảnh sát và lính chiến rất lớn, vì vậy nó mang tính chất một nhà nước quân phiệt. Đặc biệt, nền quân chủ Tây-Ban- Nha gắn liền với lý tưởng đạo Thiên chúa giáo và nung nấu một đầu óc cuồng tín đến mê muội. Trên đất nước Tây-Ban-Nha dày đặc những nhà thờ và tu viện.
Kết quả là thế kỷ XVI-XVII, nền kinh tế phá sản tới ba lần (1560, 1575 và 1617). Quân đội Acmađa- quân đội không hề chiến bại bị thua trận; các chiến hạm của Anh vơ vét các thành phố và 6 năm trước khi cuốn tiểu thuyết Don Qujote ra đời, đã có một trận dịch cướp đi sinh mạng của hơn nửa triệu người. Người dân phải bỏ đất đai ra các thành phố làm số người thất nghiệp, ăn mày lang thang tăng lên. Và điều quan trọng là vào thời điểm này người dân Tây- Ban-Nha không ý thức được sự suy thoái hay thực trạng lịch sử mà họ đang sống.
Người ta chỉ lo sao đừng ốm, thời tiết đừng ảnh hưởng tới mùa màng và đọc truyện kiếm hiệp giống như thói quen xem truyền hình của chúng ta bây giờ. Những cuốn sách kiếm hiệp đó trở thành những liều thuốc mê lặng lẽ gặm nhấm tinh thần con người. Đó là những cuốn sách bịa đặt, giả dối với những nhân vật hư cấu đến mức vô lý, những cuộc phiêu lưu, những chàng hiệp sĩ đi mây về gió để cuốn hút cám dỗ độc giả và gây ra những hậu quả hết sức tai hại. Thế giới quan của độc giả bị biến dạng, bóp méo, hóa thành thiển cận.
Bất bình trước thực tại, Cervantes đã viết cuốn tiểu thuyết Don Qujote nhằm đả kích các sách kiếm hiệp bằng cách nhại lại bằng chính hình thức tiểu thuyết hiệp sĩ. Từ đây, 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn học Tây-Ban-Nha nói riêng và văn học thời Phục hưng nói chung mở ra một hướng đi mới mẻ và táo bạo. Trong giai đoạn hậu kỳ Trung cổ, nhiều dòng văn học tiến bộ đã lên tiếng phê phán nhà thờ, lên án sự ăn bám của giai cấp quí tộc, xây dựng được những hình tượng chân thực, châm biếm gay gắt các tu sĩ, cố đạo, hiệp sĩ, nhưng không đủ khả năng vẽ ra bức tranh hiện thực rộng lớn của thực tại trong những mối liên hệ nội tại của nó. Chủ nghĩa lịch sử và tính biện chứng trong tư duy chưa thâm nhập vào được trong nền văn học đó.
Cho nên, có thể thấy chủ nghĩa hiện thực của văn học thời Trung cổ rất bị hạn chế. Ở thế kỷ XIV-XVI, hàng loạt những phát kiến địa lý vĩ đại và những phát minh trong lĩnh vực sản xuất và văn hóa (sáng chế thuốc súng, máy in, phương pháp luyện kim mới,…) đã kích thích sự phát triển những quan điểm hoàn toàn mới đối với thế giới. Từ đây, những thay đổi về mặt tư tưởng đã bắt đầu được nhận ra. Trên cơ sở lịch sử mới, những quan niệm của chủ nghĩa nhân đạo thời đại Phục hưng ngày càng bộc lộ rõ ràng.
Hướng về con người với lòng tin to lớn, các nhà nhân văn xem con người như là một kỳ quan của thiên nhiên, như là người điều khiển vũ trụ, khâm phục tài năng, trí tuệ của nó. Sechxpia đã truyền đạt sự đắm say trước trí lực và vẻ đẹp của con người qua những lời nói của Hămlet: “Con người là một truyệt tác biết chừng nào! Cao qúy bao nhiêu với lý trí sáng suốt! Những khả năng của nó vô tận biết bao nhiêu! Lớn lao và tuyệt với biết bao nhiêu trong hình dáng và cử chỉ! Trong hành động thì giống như thiên thần, về hiểu biết thì như một bậc thánh! Con người là sắc đẹp của thế giới, tinh hoa của muôn loài!” Ở thời đại Phục hưng, thái độ đắm say với con người đã đi xa hơn rất nhiều so với thời Trung cổ. Cervantes, Rable, Sechxpia đã giải phóng con người khỏi quyền lực của các lực lượng thần thánh, mang lại cho họ quyền tự do hành động cần thiết. Nhân vật 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của họ hành động theo lý tính và khát vọng tự do của mình.
Họ xử sự với tư cách là một cá nhân độc lập, thấm nhuần tinh thần trách nhiệm trước mọi người. Cho nên, ở Don Qujote người đọc chứng kiến và hình dung ra một cá nhân độc lập, tự quyết, sẵn sàng xả thân vì những hành động nghĩa hiệp. Tuy nhiên, các nhà nhân văn thời đại Phục hưng còn tiến thêm một bước nữa. Họ bắt đầu đi tìm nguyên nhân tình cảnh bi thảm của con người ở ngay đời sống, chứ không phải ở trong quan hệ thống trị của thần linh với con người.
Văn học Phục hưng đã phê phán ách áp bức của nhà thờ và của phong kiến, chống lại mọi sự hạn chế gò bó tự do cá nhân. Nền văn học ấy hoàn toàn mang tính chất trần thế, tính xã hội về nội dung, và con người được bộc lộ trong văn học không chỉ qua những tư chất bẩm sinh (cảm xúc, trí tuệ,.) của mình mà cả qua những lý tưởng xã hội của nó. Thời đại Phục hưng được đánh dấu bằng việc khẳng định dần dần quan điểm lịch sử nhìn nhận cuộc sống. Là những người làm chứng và là những người tham gia vào những sự kiện lịch sử lớn lao (sự thay đổi bản đồ thế giới nhờ kết quả phát kiến địa lý, phong trào cải cách tôn giáo, những cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân,…) các nhà nhân văn đi tới kết luận là: xã hội không đứng yên và có nguồn gốc phát triển mang tính chất trần thế chứ không phải là những nguồn gốc thần thánh.