Chương 1 trình bày bối cảnh nghiên cứu, vấn đề chính sách, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, câu hỏi chính sách, bố cục luận văn và giới thiệu DA. Chương 2 trình bày phương pháp tính giá kinh tế của đất nông nghiệp theo ADB, World Bank, theo Thông tư 145/2007/TT-BTC, trình bày khung phân tích lợi ích – chi phí và giá kinh tế của đất ở. Luận văn cũng giới thiệu về TSDĐ ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế. Trong chương 3, luận văn vận dụng các phương pháp trên vào thực tiễn để xác định giá trị kinh tế của đất nông nghiệp.
Chương 4 trình bày nội dung thẩm định hiệu quả kinh tế, hiệu quả tài chính của DA, tính toán giá kinh tế của đất hình thành sau khi chuyển MĐSD và so sánh với giá kinh tế của đất nông nghiệp, biện luận mức giá đóng TSDĐ hợp lý. Chương 5 là phần kết luận và kiến nghị, qua quá trình phân tích trước đó, tác giả đúc kết lại vấn đề và trình bày kiến nghị chính sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ KINH TẾ CỦA ĐẤT, KHUNG PHÂN TÍCH LỢI ÍCH – CHI PHÍ VÀ GIỚI THIỆU VỀ TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT Khung phân tích của luận văn là khung lý thuyết tính giá kinh tế của đất nông nghiệp và đất ở, đất thương mại, dịch vụ. Tuy nhiên, để có được đất ở, đất kinh doanh thì DA phải khả thi.
Do đó, luận văn sử dụng thêm khung phân tích lợi ích – chi phí để thẩm định hiệu quả kinh tế và hiệu quả tài chính của DA. Chương này cũng giới thiệu về quá trình thu TSDĐ ở Việt Nam lâu nay và kinh nghiệm quốc tế.1 Xác định giá trị đất nông nghiệp Mục này trình bày một số phương pháp khác nhau để xác định giá trị kinh tế của đất nông nghiệp.1 Tính giá kinh tế của đất nông nghiệp theo phương pháp của ADB Phương pháp để xác định giá trị kinh tế của đất chính là sử dụng chi phí cơ hội của đất, tức là những gì được tạo ra khi sử dụng đất đó trong trường hợp không có DA. Đối với các DA mới ở nông thôn, chi phí cơ hội của đất là giá trị tính theo giá kinh tế của sản lượng nông nghiệp bị mất đi do không sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất đó nữa. Nói cách khác, đó là lợi nhuận bị mất đi khi không canh tác nông nghiệp nữa.
Chi phí cơ hội này cần được ước tính hàng năm trong suốt vòng đời DA. Mặt khác, năng suất đất nông nghiệp có thể biến động theo thời gian trong trường hợp không có DA. Năng suất đất có thể tăng lên khi có phương thức canh tác mới hoặc giảm đi khi đất bị xóa mòn, bạc màu. Xu hướng này cần được dùng để tính chi phí cơ hội12.
Cách làm là chọn một sản phẩm cụ thể hoặc một số ít các sản phẩm để tính toán sản lượng thu hoạch ròng bị mất đi, có thể ước tính các số liệu trên cơ sở từng hecta và sau đó ngoại suy cho toàn bộ diện tích đất. Khi quan sát thấy các kỹ thuật trong nông nghiệp hay cơ cấu cây trồng đang thay đổi thì có thể thêm hệ số điều chỉnh hàng năm sản lượng mất đi trên một hecta để phản ánh thay đổi năng suất. Mỗi vùng có mức độ thâm canh cây trồng hay số vụ thu hoạch trong năm khác nhau. Lợi ích ròng trên một vụ thu hoạch từ những sản phẩm được lựa chọn sẽ được nhân với hệ số mức độ thâm canh để thể hiện mức sản lượng ròng bị mất đi hàng năm cho toàn bộ diện tích đất.
Công thức xác định là: EPLt = NBo.1) 12 ADB (1997), Hướng dẫn Phân tích Kinh tế các dự án, tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Trong đó, EPLt là giá kinh tế của đất trên 1 hecta năm t, NBo là sản lượng hay lợi ích ròng theo giá ẩn trên 1 hecta của một cây trồng trong năm 0, CI là mức thâm canh, g là hệ số tăng năng suất, tức là tốc độ tăng năng suất của cây trồng13. Từ công thức tính giá kinh tế đất đai hàng năm của ADB, tác giả luận văn nhận thấy có thể tính giá trị kinh tế của đất bằng cách cộng dồn giá kinh tế hàng năm trong tương lai, qui đổi về hiện tại theo tỉ lệ chiết khấu k14. ∞ EPL t EPL 1 1+ g V= ∑ = = EPLo.
Công thức này xác định giá kinh tế của đất thông qua tốc độ tăng năng suất của đất đai g.2 Xác định giá kinh tế của đất theo phương pháp của World Bank Theo Pedro Belli, chuyên gia World Bank và các đồng tác giả, đất đai là hàng hóa đặc biệt với đường cung hoàn toàn không co giãn, bất kể mảnh đất nào chuyển sang dùng cho DA đều bắt buộc phải lấy đi từ cách sử dụng khác nào đó. Vì thế, việc định giá đất đai dùng cho DA có thể phải dựa vào các phương pháp gián tiếp chứ không thể sử dụng giá thị trường có điều chỉnh các méo mó. Ông đo lường giá trị của đất đai bằng giá trị hiện tại ròng (NPV) của giá thuê đất hoặc lợi nhuận ròng trên đất qua công thức: V = R/(k-g1) (2.3) Trong đó V chính là giá trị ước định của khu đất, chính là giá kinh tế của đất, R là tiền thuê đất hay thu nhập ròng hàng năm trên đất, hệ số chiết khấu k là lãi suất hay chi phí vốn của nền kinh tế, g1 là tốc độ tăng thực tế kỳ vọng của giá thuê đất hay tốc độ tăng lợi nhuận hàng năm15. Đây là công thức xác định giá kinh tế của đất nông nghiệp và cả đất ở, đất kinh doanh.
Công thức này tương tự như công thức (2. Điều tác giả muốn nhấn mạnh khi nêu ra công thức này là Pedro Belli và các đồng tác giả đã cho chúng ta thêm một cách xác định giá kinh tế của đất đai thông qua tốc độ tăng lợi nhuận hàng năm g1. 13 ADB (1997), Hướng dẫn Phân tích Kinh tế các dự án, Phụ lục 13, tr. 14 Tác giả luận văn xây dựng công thức (2.2) dựa trên công thức (2.Phần chứng minh ở Phụ lục 2 15 Belli, Pedro và đ.g (2001), Phân tích Kinh tế các hoạt động đầu tư: Công cụ phân tích và ứng dụng thực tế, tr.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Tính giá trị đất nông nghiệp theo phương pháp thu nhập theo Thông tư số 145/2007/TT-BTC Theo phương pháp thu nhập, việc xác định giá đất nông nghiệp được tiến hành qua 4 bước16. Bước 1: Tính tổng thu nhập hàng năm của khu đất cần định giá. Bước 2: Tính tổng chi phí hàng năm phải chi ra hình thành tổng thu nhập. Bước 3: Xác định thu nhập thuần túy hàng năm theo công thức: Thu nhập thuần túy hàng năm = Tổng thu nhập hàng năm đã tính ở Bước 1 – Tổng chi phí đã tính ở Bước 2.
Bước 4: Ước tính mức giá đất cần định giá theo công thức: Giá đất ước tính = Thu nhập thuần túy hàng năm thu được từ thửa đất/Lãi suất tiền gửi tiết kiệm VND kỳ hạn 12 tháng. Trong đó, tổng thu nhập, tổng chi phí xác định ở Bước 1, Bước 2 và thu nhập thuần túy xác định ở Bước 3 phải là tổng thu nhập, tổng chi phí và mức thu nhập thuần túy bình quân của vị trí đất của loại đất cần định giá, được tính bình quân trong 3 năm ngay trước thời điểm xác định giá đất, trường hợp không thu thập được số liệu trong 3 năm thì sử dụng số liệu năm ngay trước thời điểm định giá đất. Theo phụ lục hướng dẫn của Thông tư, tổng thu nhập được xác định dựa trên giá bán năm ngay trước thời điểm định giá đất.2 Phân tích tính khả thi về mặt kinh tế của dự án Luận văn đánh giá hiệu quả của DA trên quan điểm của cả nền kinh tế thông qua các chỉ tiêu NPVe, EIRR dựa trên tính toán lợi ích kinh tế và chi phí kinh tế của DA. NPVe là giá trị hiện tại tại ròng của dòng tiền theo giá kinh tế.
DA có hiệu quả khi NPVe = n Bt − Ct ∑ (1 + k) t =0 t ≥0 với Bt là Lợi ích kinh tế của DA năm t, Ct là Chi phí kinh tế của DA năm t, k là chi phí vốn của nền kinh tế. n Bt − C t EIRR là tỉ suất hoàn vốn nội bộ kinh tế, là giá trị mà tại đó NPVe = ∑ = 0. t =0 (1 + EIRR) t Luận văn sử dụng hệ số chuyển đổi từ giá tài chính sang giá kinh tế để tính giá kinh tế của một số thông số: CFj = Giá kinh tế/Giá tài chính DA phân lô bán nền sau năm 2016 là kết thúc về mặt tài chính. Tuy nhiên, sản phẩm của DA là đất ĐT tồn tại mãi mãi, do đó tác động của nó đến nền kinh tế cũng tồn tại mãi mãi.
Vì vậy, để tính lợi ích kinh tế của DA, tác giả sẽ xác định các nguồn thu trong tương lai 16 Bộ Tài chính (2007), Thông tư số 145/2007/TT-BTC ban hành ngày 06/12/2007. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 sau khi DA phân lô bán nền hoàn thành, giả định rằng tất cả công trình đều được chủ đất xây dựng và cho thuê. Khi đó: Lợi ích kinh tế là tiền thuê nhà ở, công trình thương mại, dịch vụ sau khi có DA, giá thuê tăng dần hàng năm. Chi phí kinh tế bao gồm chi phí cơ hội của đất, chi phí đầu tư ban đầu theo giá kinh tế, chi phí hoạt động theo giá kinh tế và chi phí xây dựng nhà cho thuê trên đất sau khi có DA.
Chi phí đầu tư ban đầu theo giá kinh tế bao gồm tổng chi phí xây dựng, chi phí quản lý dự án trong thời gian thi công (CPQLDA TTGTC), chi phí tổ chức đền bù theo giá kinh tế. Chi phí hoạt động theo giá kinh tế bao gồm chi phí quảng cáo và chi phí quản lý bán đất theo giá kinh tế.3 Tính giá kinh tế của đất sau khi chuyển mục đích sử dụng Giá kinh tế của đất chính là giá trị thực của đất đai khi không có yếu tố làm biến dạng thị trường như thuế, đầu cơ, tăng giá do yếu tố tâm lý… Luận văn sẽ tính trực tiếp giá kinh tế của đất ở, đất kinh doanh. Giá kinh tế của đất ở, thương mại, dịch vụ bằng mức sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng cho mỗi mét vuông đất đó. Mức sẵn lòng chi trả chính là lợi ích kinh tế ròng do mỗi mét vuông đất mang lại, bằng lợi ích kinh tế trừ chi phí kinh tế tính bình quân trên mỗi mét vuông.