Giá trị kiến trúc Pháp ở bờ Nam sông Hương trong không gian đô thị di sản Huế

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu kiến trúc giá trị kiến trúc pháp ở bờ nam sông hương trong không gian đô thị di sản huế, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Kiến Trúc

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kiến Trúc

2016

82
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Tổng quan về những nghiên cứu có liên quan đến đề tài

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

1.4. Nội dung nghiên cứu

1.5. Giới hạn nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

2. PHẦN 2: NỘI DUNG

2.1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC PHÁP Ở BỜ NAM SÔNG HƯƠNG

2.1.1. Sự du nhập của kiến trúc Pháp vào Việt Nam giai đoạn 1858-1945

2.1.1.1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858-1945

Tóm tắt

I. Tổng quan về giá trị kiến trúc Pháp tại bờ Nam sông Hương

Kiến trúc Pháp tại bờ Nam sông Hương là một phần không thể thiếu trong không gian đô thị di sản Huế. Những công trình này không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn phản ánh lịch sử và văn hóa của vùng đất cố đô. Từ giữa thế kỷ XIX đến nửa thế kỷ XX, nhiều công trình kiến trúc Pháp đã được xây dựng, tạo nên một bức tranh đa dạng về kiến trúc đô thị. Các công trình như Trường Quốc học Huế, Trường Đồng Khánh, và khách sạn Morin là những minh chứng cho sự giao thoa văn hóa giữa phương Đông và phương Tây. Những giá trị này không chỉ nằm ở hình thức kiến trúc mà còn ở ý nghĩa lịch sử và văn hóa mà chúng mang lại cho cộng đồng địa phương.

1.1. Lịch sử hình thành kiến trúc Pháp tại Huế

Kiến trúc Pháp bắt đầu du nhập vào Huế từ giữa thế kỷ XIX, khi Pháp thiết lập quyền kiểm soát tại Việt Nam. Những công trình đầu tiên được xây dựng nhằm phục vụ cho nhu cầu hành chính và giáo dục của thực dân Pháp. Sự kết hợp giữa phong cách kiến trúc phương Tây và các yếu tố văn hóa bản địa đã tạo nên những công trình độc đáo, mang đậm dấu ấn lịch sử.

1.2. Đặc điểm nổi bật của kiến trúc Pháp ở bờ Nam sông Hương

Kiến trúc Pháp tại bờ Nam sông Hương có nhiều đặc điểm nổi bật như sự kết hợp giữa các yếu tố cổ điển và hiện đại. Các công trình thường sử dụng vật liệu xây dựng bền vững, với các chi tiết trang trí tinh xảo. Hệ thống cửa sổ lớn, ban công và mái vòm là những đặc trưng dễ nhận thấy, tạo nên vẻ đẹp hài hòa với cảnh quan thiên nhiên xung quanh.

II. Vấn đề bảo tồn kiến trúc Pháp tại bờ Nam sông Hương

Hiện nay, nhiều công trình kiến trúc Pháp tại bờ Nam sông Hương đang đối mặt với tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Sự lão hóa của vật liệu, cùng với tác động của thời tiết và chiến tranh, đã làm giảm giá trị của những công trình này. Việc bảo tồn và cải tạo các công trình này là một thách thức lớn, đòi hỏi sự quan tâm và đầu tư từ chính quyền và cộng đồng.

2.1. Tình trạng xuống cấp của các công trình kiến trúc Pháp

Nhiều công trình kiến trúc Pháp đã có tuổi thọ từ 70 đến 100 năm, dẫn đến tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Các vấn đề như thấm dột, mục nát và hư hỏng vật liệu xây dựng đang diễn ra phổ biến. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến giá trị kiến trúc mà còn đến an toàn của người sử dụng.

2.2. Thách thức trong công tác bảo tồn di sản

Công tác bảo tồn di sản kiến trúc Pháp tại Huế gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực và sự quan tâm từ chính quyền. Nhiều công trình bị cải tạo không đúng cách, làm mất đi giá trị nguyên bản. Cần có những chính sách và biện pháp cụ thể để bảo tồn và phát huy giá trị của các công trình này.

III. Phương pháp bảo tồn kiến trúc Pháp hiệu quả tại Huế

Để bảo tồn giá trị kiến trúc Pháp tại bờ Nam sông Hương, cần áp dụng các phương pháp bảo tồn hiện đại kết hợp với việc tôn trọng giá trị lịch sử. Việc khảo sát, đánh giá hiện trạng và lập kế hoạch bảo tồn chi tiết là rất cần thiết. Cần có sự tham gia của cộng đồng và các chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.

3.1. Khảo sát và đánh giá hiện trạng công trình

Khảo sát hiện trạng các công trình kiến trúc Pháp là bước đầu tiên trong quá trình bảo tồn. Cần thu thập dữ liệu về tình trạng vật liệu, cấu trúc và các yếu tố tác động đến công trình. Việc này giúp xác định các biện pháp bảo tồn phù hợp.

3.2. Lập kế hoạch bảo tồn chi tiết

Sau khi đánh giá hiện trạng, cần lập kế hoạch bảo tồn chi tiết cho từng công trình. Kế hoạch này cần xác định rõ các biện pháp cần thực hiện, nguồn lực cần thiết và thời gian thực hiện. Sự tham gia của cộng đồng và các chuyên gia sẽ giúp nâng cao hiệu quả của kế hoạch.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về kiến trúc Pháp

Nghiên cứu về kiến trúc Pháp tại bờ Nam sông Hương không chỉ mang lại những hiểu biết về giá trị văn hóa mà còn giúp định hướng cho công tác bảo tồn. Các kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc phát triển du lịch, giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị di sản.

4.1. Ứng dụng trong phát triển du lịch

Kiến trúc Pháp tại bờ Nam sông Hương có tiềm năng lớn trong việc phát triển du lịch. Các công trình này có thể trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách, góp phần vào việc phát triển kinh tế địa phương. Cần có các chương trình quảng bá và phát triển sản phẩm du lịch liên quan đến di sản kiến trúc.

4.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng về di sản

Nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị di sản kiến trúc Pháp là rất quan trọng. Các hoạt động giáo dục, hội thảo và chương trình truyền thông có thể giúp cộng đồng hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và lịch sử của các công trình này, từ đó tạo ra sự đồng thuận trong công tác bảo tồn.

V. Kết luận và tương lai của kiến trúc Pháp tại Huế

Giá trị kiến trúc Pháp tại bờ Nam sông Hương là một phần quan trọng trong không gian đô thị di sản Huế. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của các công trình này không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn tạo ra cơ hội phát triển bền vững cho cộng đồng. Cần có những chính sách và hành động cụ thể để đảm bảo rằng các giá trị này được bảo tồn cho các thế hệ tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản

Bảo tồn di sản kiến trúc Pháp không chỉ là trách nhiệm của chính quyền mà còn là của toàn xã hội. Các giá trị văn hóa, lịch sử cần được gìn giữ và phát huy để tạo ra một môi trường sống tốt đẹp hơn cho cộng đồng.

5.2. Hướng đi tương lai cho kiến trúc Pháp tại Huế

Trong tương lai, cần có những nghiên cứu sâu hơn về kiến trúc Pháp tại Huế, từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn hiệu quả. Sự kết hợp giữa bảo tồn và phát triển sẽ giúp tạo ra một không gian đô thị hài hòa, bền vững và giàu giá trị văn hóa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/07/2025
Luận văn thạc sĩ kiến trúc giá trị kiến trúc pháp ở bờ nam sông hương trong không gian đô thị di sản huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho thời kỳ đô thị hóa lần thứ 4 trên vùng đất Thừa Thiên Huế theo hình thái đô thị mới đầu thế kỷ XX.2) 18 Vào thế kỉ 20 cùng với sự ra đời của thị xã Huế (12/07/1899) và nâng cấp lên thành phố Huế (12/12/1929) thì địa giới hành chính Huế cũng được mở rộng. Như vậy, kể từ năm1899, Huế được xác lập không gian hành chính đô thị cụ thể, góp phần không nhỏ vào việc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa tại Huế. Thị xã Huế không cai quản khu vực kinh thành, mà chỉ bao gồm vùng phụ cận 4 phía bao quanh kinh thành, giới hạn bởi các con sông đào và dải đất bờ Nam sông Hương. Trong giai đoạn thị xã Huế (1899 - 1929), trải qua ba lần điều chỉnh, thị xã Huế hình thành nên 9 phường phân bố trên phạm vi cả tả ngạn và hữu ngạn sông Hương.

Ngày 12/12/1929, thị xã Huế được quyết định nâng cấp lên thành phố Huế. Trong giai đoạn thành phố Huế (1929 - 1945), toàn thành phố được tổ chức thành 11 phường theo tên mới lấy chữ Phú làm nền chung. Khu vực phía bắc sông Hương có 3 phường là Phú Hòa, Phú Bình, Phú Thịnh. Khu vực cồn Gia Hội có 4 phường là Phú Cát, Phú Mỹ, Phú Thọ, và Phú Hậu.

Khu vực phía nam sông Hương có 4 Phường là Phú Ninh, Phú Vĩnh, Phú Hội và Phú Nhuận. Trong 60 năm, đô thị Huế chuyển dịch dưới sự điều chỉnh của thực dân Pháp. Quá trình đô thị hóa giai đoạn này đã không mang nặng tính chất “đô thành hóa” như giai đoạn trước. Đứng dưới góc độ đô thị, thực dân Pháp đã thổi một “cơn gió mới” vào quá trình đô thị hóa Huế trên cơ sở tôn trọng và tiếp thu các yếu tố truyền thống.

Nhìn chung, đô thị Huế trong thời kì Pháp thuộc thay đổi theo chiều hướng mở rộng và tăng cường về quy mô và diện mạo. Sự xuất hiện của thực dân Pháp đồng nghĩa với sự xuất hiện của một nền kinh tế tư bản - thực dân ở Huế còn ở mức độ thấp nhưng phần nào làm thay đổi phần “thị” của Huế.Như vậy, vào giai đoạn Pháp thuộc đô thị Huế đã có một số chuyển đổi khá quan trọng, nếu như phần “đô” được bổ sung bởi các công trình hành chính - dân sự thì phần “thị” ở Huế cũng dịch chuyển theo xu hướng bám sát phần “đô” hơn. Các khu phố- chợ mới ra đời, các hoạt động thương mại cũng khá nhộn nhịp. Đời sống đô thị ngày càng đậm đà hơn.

Thời hiện đại (xem Hình 1.3) Từ năm 1945-1954, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành kiện toàn lại bộ máy quản lý nhà nước, thành lập các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Sài Gòn. Thành phố Huế dưới sự quản lý của Chính quyền cách mạng. Ranh giới thành phố được mở rộng hơn tới các huyện Phú Vang và Hương Thủy. Sau năm 1975, Huế là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Trị Thiên (cũ) gồm 18 phường, 22 xã.

Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường sau chiến tranh, trung tâm đô thị Huế được mở rộng những khu phố xung quanh. Một số lượng lớn các công trình kiến trúc xuất hiện ngày càng nhiều. Tuy nhiên, sau khi có được các quyền sử dụng đất, lãnh thổ, việc đối xử với các không gian chuyển tiếp giữa kiến trúc cổ với kiến trúc hiện đại ở hai bờ sông Hương đã không được tôn trọng như thời kỳ trước đó. Sau năm 1975 đến nay, những toà nhà lớn, những kiến trúc lộn xộn xuất hiện cạnh ngay sông Hương như khách sạn Century, chợ Đông Ba,…Các kiến trúc trong khu phố Tây đã dần dần bị thay thế bằng một loại kiến trúc hỗn tạp, xuất hiện nhiều hơn nữa các công trình lớn, nhiều kiến trúc cao đến trên dưới mười tầng, ví dụ khách sạn Tân Hoàng Cung, đã phá hủy nghiêm trọng cảnh quan sông Hương và diện mạo khu phố Tây ở bờ Nam sông Hương.

Sau ngày đất nước thực hiện chính sách mở cửa hội nhập quốc tế (1986) đi dần vào nền kinh tế thị trường, kiến trúc đô thị Huế theo đó cũng phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy: Kiến trúc cũ nhỏ, thấp bị đập phá xây dựng kiến trúc mới cao, to; những khoảng đất trống xen lẫn các kiến trúc cũ chuyển đổi chức năng, xây dựng vào đó những kiến trúc mới bất chấp yêu cầu phải hài hoà với kiến trúc cũ, những kiểu mẫu kiến trúc mới xa lạ với kiến trúc Huế. Năm 1989 Thừa Thiên tách khỏi tỉnh Bình Trị Thiên, Huế là thành phố tỉnh lỵ của Thừa Thiên - Huế gồm 18 phường, 5 xã và hiện nay là 27 phường. Ngày 24 tháng 9 năm 1992, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 355-CT công nhận thành phố Huế là đô thị loại 2. Ngày 24 tháng 8 năm 2005, Chính phủ Việt Nam 20 ban hành quyết định số 209/2005/QĐ-TTG, theo đó, thành phố Huế được nâng từ đô thị loại 2 lên đô thị loại 1 nhưng không trực thuộc trung ương mà trực thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế.

Sau khi Huế được công nhận là đô thị loại 1, Bộ Chính trị Khoá X ngày 25 tháng 5 năm 2009 đã ra Kết luận số 48-KL/TW về "Xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020", trong đó nêu rõ phương hướng: "Xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới, là trung tâm của khu vực miền Trung và một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch; khoa học-công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục – đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao. Phấn đấu năm 2020, Thừa Thiên Huế xứng tầm là trung tâm đô thị cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, y tế, đào tạo lớn của cả nước và khu vực các nước Đông Nam Châu Á. Đặc điểm cấu trúc khu phố Tây ở bờ Nam sông Hƣơng thời Pháp thuộc Vào cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX, người Pháp đã tạo ra ở bờ Nam sông Hương một phân khu kiến trúc theo lối mới mà bấy giờ họ gọi là “quartier Européenne” hoặc “Ville Européenne”, tạm dịch là phố Tây. Họ gọi như vậy để phân biệt với khu vực kiến trúc cung đình cổ kính ở bên kia sông là “Ville Annamite”.4) Cấu trúc khu phố Tây được chia thành các khu đất, dựa trên 2 trục không gian chính và vuông góc với nhau (đường Lê Lợi và đường Hùng Vương ngày nay).

Đoạn giao nhau này gần như được xem là khoảng không gian đẹp nhất của khu phố này, tiếp nối giữa khu phố cổ và khu phố mới thông qua cầu Thành Thái (cầu Trường Tiền ngày nay). Dọc theo đường Jules Ferry (đường Lê Lợi hiện nay) bên bờ Nam sông Hương, người Pháp dựng lên các công trình Toà Khâm sứ Trung Kỳ, Khách sạn Morin, sở Công chánh, Câu lạc bộ Thể thao, chi nhánh Ngân hàng Đông Dương, Bệnh viện Huế, Phủ Doãn, Trường Đồng Khánh, trường Quốc Học, Nhà Công sứ, Toà Công sứ, Viện Dân biểu Trung Kỳ… Các công trình dọc theo đường 21 Thuộc địa số 01 (đường Hùng Vương ngày nay) người Pháp xây dựng Đồn De Courcy (thường gọi là đồn Săn đá ), Lầu Ông Sáu, Bót Cò…[4] (xem Hình 1.12) Các công trình được định vị trên trục không gian đường Jules Ferry tiếp giáp với sông Hương tạo nên một sự chuyển tiếp không gian rất nhẹ nhàng và đầy tính Huế khi để lại cho sông Hương một khoảng xanh cần thiết giống như bên bờ Bắc sông Hương. Mặc dù khu phố mới bị coi là “khu phố thuộc địa”, nhưng có một điều may mắn là người Pháp đã quy hoạch và xây dựng khu phố Tây ở Huế một cách có ý thức. Họ tôn trọng giá trị tự nhiên của sông Hương nói riêng và vẻ đẹp hài hòa của tổng thể Kinh đô Huế nói chung, họ đã không tạo ra đối nghịch nào với phong cảnh tự nhiên và phong cách vốn có của Huế xưa.

Các công ốc và dinh thự tân thời đều được xây dựng ở những vị trí hơi cách xa bờ sông Hương, phần lớn ở bên lề Nam của đường Jules Ferry, khống chế chiều cao không quá hai tầng. Từ bờ sông lên đến lề phía Bắc của con đường là những thảm cỏ xanh hoặc những hoa viên xinh xắn. Ở hai lề đường ấy, họ còn trồng những hàng cây đại thọ, vừa để làm mát và đẹp cho con đường, vừa để làm giải phân cách không gian giữa khu phố Tây với sông Hương và bờ Bắc. Khu phố Tây không phải chỉ phụ thuộc vào các công trình đơn lẻ mà còn đạt được sự thành công trong việc hòa nhập giữa công trình và cảnh quan công trình, thiên nhiên, đường phố tạo nên một không gian hài hòa, cân đối với không gian chung của đô thị.

Khu phố Tây là một thành phần cấu trúc đô thị mới được bổ sung vào đô thị cổ của Huế và nó càng làm tăng thêm tính đa dạng của hình thái không gian đô thị của miền núi Ngự - sông Hương. Nhờ có ‎ ý thức như thế, cho nên trong một thời gian dài, ít nhất là đến năm 1954, hai hệ thống kiến trúc ở hai bờ con sông, tuy ra đời trong hai thời đại lịch sử khác nhau và xuất hiện từ hai nền văn hóa khác nhau, nhưng vẫn cùng tồn tại một cách êm đẹp trên một mẫu số chung về giá trị nghệ thuật. 22 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, dưới chế độ thực dân - phong kiến, bên cạnh việc bóc lột và tận thu tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam, người Pháp cũng đã thành công trong việc mở mang các đô thị, xây dựng nhiều công trình kiến trúc có chất lượng nghệ thuật, tạo lập và vận hành một số tiện ích công cộng của đô thị…Thời kỳ này đánh dấu bước chuyển biến của các thành thị kiểu phương Đông bước sang giai đoạn phát triển hiện đại và mang dấu ấn một đô thị kiểu phương Tây. Qua hơn ba trăm năm, đô thị Huế được định hình bởi những biến động lớn lao của lịch sử, cùng với tác động của điều kiện tự nhiên, mà kết quả là kiến trúc cổ truyền và kiến trúc thuộc địa đã gặp nhau, cùng chung sống và hòa hợp trong một thành phố đẹp và thơ.

Năm 1802, vua Gia Long bắt đầu xây kinh thành, đánh dấu bước phát triển đầu tiên của đô thị Huế. Trung tâm đô thị nằm trên bờ Bắc sông Hương với kinh thành và vùng phụ cận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ