CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VIỆC VẬN DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG KẾ TOÁN GIAO DỊCH HỢP NHẤT KINH DOANH Các nghiên cứu trước đây đã làm rõ cơ sở lý thuyết về giá trị hợp lý cũng như giao dịch hợp nhất kinh doanh. Chương này tác giả chỉ trình bày khái quát về giá trị hợp lý và những vấn đề liên quan tới hợp nhất kinh doanh; còn lại chủ yếu sẽ đi sâu vào việc áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán giao dịch hợp nhất kinh doanh khi ghi nhận ban đầu và sau khi ghi nhận ban đầu theo thông lệ quốc tế từ đó làm cơ sở cho các chương tiếp theo. Lý thuyết định giá trong kế toán 1. Định nghĩa và vai trò định giá trong kế toán Định giá là một phương pháp cơ bản của kế toán, biểu hiện các đối tượng kế toán bằng tiền theo những nguyên tắc và yêu cầu nhất định ( Nguyễn Việt và Võ Văn Nhị, 1997, trang 132).
Định giá thường diễn ra thường xuyên trong hoạt động kinh tế như giao dịch mua bán, hợp nhất kinh doanh. Nhờ vào định giá mà giá trị của các đối tượng kế toán của doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ bao gồm giá trị tài sản, nguồn vốn cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, định giá ảnh hưởng đến tất cả các khoản mục của báo cáo tài chính. Từ đó nó ảnh hưởng đến các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá tình hình tài chính tình hình hoạt động của doanh nghiệp kéo theo ảnh hưởng đến việc ra quyết định của người sử dụng báo báo cáo tài chính.
IASB đã đưa ra những đặc điểm chất lượng để việc định giá cho các đối tượng kế toán được phản ánh trung thực và hợp lý. Những đặc điểm chất lượng này có ảnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 hưởng rõ rệt đến định giá theo IASB (Khuôn mẫu lý thuyết BCTC, 2010) bao gồm : Hai chỉ tiêu chất lượng chủ yếu là: thích hợp và trung thực; Bốn chỉ tiêu chất lượng thứ yếu là: có thể so sánh, có thể kiểm chứng, kịp thời và có thể hiểu được. Và theo IASB framework hiện nay có bốn hệ thống định giá kế toán: Kế toán giá gốc, Kế toán theo mức giá chung, Kế toán giá hiện hành, Kế toán giá đầu ra. Trong mỗi hệ thống kế toán, các loại giá khác nhau được sử dụng kết hợp với nhau để định giá các đối tượng kế toán.
Hiện nay IASB xác định có hai loại giá dùng làm cơ sở đo lường bao gồm giá đầu vào và đầu ra tương ứng với hai quan điểm bảo toàn vốn tài chính và vật chất dưới đây. Khái niệm về vốn và bảo toàn vốn1 Khái niệm về vốn Khái niệm tài chính vốn là tiền đầu tư hoặc sức mua của vốn đã đầu tư, vốn đồng nghĩa với tài sản thuần hoặc vốn chủ sở hữu. Khái niệm vật chất vốn như là năng lực hoạt động, năng lực sản xuất của một doanh nghiệp. Khái niệm bảo toàn vốn Dựa trên hai khái niệm về vốn làm nảy sinh hai khái niệm về bảo toàn vốn: Bảo toàn vốn tài chính và bảo toàn vốn vật chất.
Khái niệm bảo toàn vốn tài chính: Lợi nhuận là phần vượt của giá trị tài sản thuần cuối kỳ so với đầu kỳ sau khi loại trừ ảnh hưởng của các khoản góp vốn hoặc chia lãi cho cổ đông. Như vậy lợi nhuận chỉ xảy ra khi có sự tăng lên của giá trị tài sản thuần trong những điều kiện trên. Theo IAS framework có hai phương pháp để xác định bảo toàn vốn tài chính: Theo đơn vị tiền tệ danh nghĩa: Lợi nhuận là khoản gia tăng vốn danh nghĩa trong kỳ. Như vậy khoản gia tăng về giá cả của tài sản hiện có trong kỳ được 1 Nguyễn thế lộc, Định giá tài sản và xác định lợi nhuận trên các báo cáo tài chính, trang 38,39 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 coi là lợi nhuận, tuy nhiên chúng chưa được ghi nhận cho đến khi tài sản đó được bán hoặc trao đổi.
Theo đơn vị sức mua ổn định: Lợi nhuận là khoản gia tăng sức mua của vốn trong kỳ. Như vậy chỉ có phần gia tăng giá cả của tài sản vượt quá phần tăng của sức mua chung thì mới được coi là lợi nhuận. Khái niệm bảo toàn vốn vật chất: Lợi nhuận là phần vượt của năng lực sản xuất vật chất cuối kỳ so với đầu kỳ sau khi trừ đi khoản góp vốn và chia lãi cho các cổ đông. Khái niệm bảo toàn vốn về mặt vật chất yêu cầu báo cáo dựa trên cơ sở giá hiện hành.
Các loại giá được sử dụng Quá trình phát triển các lý thuyết và thực tiễn hoạt động kế toán đã dẫn đến sự ra đời nhiều loại giá khác nhau, chúng được phân thành các loại như sau: Giá đầu vào Giá gốc (historical cost): Là số tiền hoặc tương đương tiền đã thanh toán để có một tài sản hoặc thanh toán một khoản nợ phải trả. Giá thay thế (replacement cost) - chi phí thay thế: Là số tiền hoặc tương đương tiền sẽ được chi trả để nhận được tài sản tương đương có cùng giá trị hữu dụng còn lại. Giá thay thế được ước tính dựa vào giá thị trường, hoặc chỉ số giá đặc biệt, hoặc sự ước lượng của nhà quản lý. Giá đầu ra Giá trị thuần có thể thực hiện (net realizable value): Là số tiền hoặc tương đương tiền thuần sẽ thu được khi bán tài sản hoặc sẽ phải trả để thanh toán nợ hiện tại.
Giá trị thuần có thể thực hiện là giá bán ước tính trong điều kiện kinh doanh bình thường trừ chi phí ước tính cho việc hoàn thành và tiêu thụ. Hiện giá (present value): Là giá trị hiện tại của dòng tiền thuần sẽ nhận được từ việc sử dụng tài sản hoặc sẽ trả để thanh toán nợ. Để tính toán hiện giá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 phụ thuộc vào: Dòng tiền mong muốn, thời gian của dòng tiền mong muốn, số năm còn lại của tài sản hoặc nợ phải trả, lãi suất chiết khấu phù hợp. Các loại giá khác Giá thị trường: Là giá của tài sản hoặc nợ phải trả được xác định trên thị trường hoạt động.
Điều kiện để giá thị trường phản ánh đúng giá cả của tài sản, nợ phải trả là phải có thị trường hoạt động, trong đó người mua và người bán phải có đầy đủ sự hiểu biết về giao dịch, mua bán không có bất cứ sự cưỡng ép nào. Vì vậy vấn đề khó khăn gặp phải khi sử dụng giá thị trường là trong nhiều trường hợp không có thị trường hoạt động để có thể xác định được giá thị trường. Giá trị hợp lý: “Là giá mà tại đó tài sản và nợ phải trả có thể được trao đổi trong một giao dịch hiện tại giữa những người tự nguyện, thông thạo, không có mối quan hệ” FASB, Fair Value Measurements, dự thảo, năm 2004. Giá trị hợp lý là một loại giá áp dụng trong kế toán để người quan tâm có thể tin tưởng được tính minh bạch của báo cáo tài chính đó.
Nội dung giá trị hợp lý 1. Lược sử về sự hình thành và phát triển của giá trị hợp lý Thời kỳ tự phát (1850 – 1970): Sau đại khủng hoảng giá gốc giữ vị trí thống trị trong kế toán Mỹ. Giá thị trường được bàn đến trong các nghiên cứu dưới các hình thức giá trị thuần có thể thực hiện, giá hiện hành, giá đầu ra… khởi đầu cho một khái niệm về giá trị hợp lý. Thời kỳ hình thành giá trị hợp lý (1970 – 1990): Lạm phát khiến giá thị trường được quan tâm và các chuẩn mực liên quan được ban hành tại Mỹ.
Sau khủng hoảng về vay và tiết kiệm, giá thị trường bắt đầu được áp dụng cho một số khoản đầu tư chứng khoán tại Mỹ. Thời kỳ này IASC đưa dần giá trị hợp lý vào chuẩn mực. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Thời kỳ phát triển (1990 – 2004): IASC /IASB tiếp tục đẩy mạnh việc sử dụng giá trị hợp lý trong các chuẩn mực của mình, mở rộng việc áp dụng giá trị hợp lý cho các khoản phi tài chính. Nhưng những hướng dẫn về giá trị hợp lý vẫn chưa đạt được sự thống nhất.
Thời kỳ này Mỹ đã bắt đầu sử dụng giá trị hợp lý cho việc đánh giá sau khi ghi nhận ban đầu. Năm 2004 ban hành sự thảo chuẩn mực về giá trị hợp lý của FASB. Thời kỳ phát triển mạnh mẽ ( 2004 – nay): Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của giá trị hợp lý và kết quả là IFRS 13 ra đời (2011) và có hiệu lực (2013). Mục tiêu của IFRS 13 là đưa ra định nghĩa về giá trị hợp lý, thiết lập khuôn mẫu về đo lường giá trị hợp lý và yêu cầu trình bày công bố thông tin về việc đo lường giá trị hợp lý.
Vậy thông qua IFRS giá trị hợp lý ngày càng được thừa nhận rộng rãi hơn. Vai trò của giá trị hợp lý cần được xem xét như là một yếu tố góp phần cho sự thành công của IASB. Trên thực tế giá trị hợp lý chỉ được sử dụng như một trong các phương pháp định giá. Tuy nhiên rút cuộc thì giá trị hợp lý có thể thay thế được cho giá gốc vẫn còn là một vấn đề tranh luận.
Cơ sở đo lường theo giá trị hợp lý của IFRS 13 1. Phạm vi áp dụng Chuẩn mực này áp dụng trong trường hợp chuẩn mực khác yêu cầu hoặc cho phép việc xác định giá trị hợp lý hoặc thuyết minh về việc xác định giá trị hợp lý trên báo cáo tài chính. Khung hướng dẫn cách xác định giá trị hợp lý được mô tả trong Chuẩn mực này áp dụng trong cả hai trường hợp đánh giá ban đầu hay đánh giá lại nếu các chuẩn mực khác yêu cầu hay cho phép sử dụng giá trị hợp lý 1. Định nghĩa giá trị hợp lý TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Giá trị hợp lý là giá có thể nhận được khi bán tài sản hay giá trị cần thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch sòng phẳng giữa các bên tham gia thị trường tại ngày cần xác định giá trị giao dịch.
Tài sản hay công nợ Việc xác định giá trị hợp lý được áp dụng cho tài sản hoặc công nợ cụ thể. Nghĩa là, khi xác định giá trị hợp lý, doanh nghiệp nên xét đến các đặc tính của tài sản hoặc công nợ nếu các bên tham gia thị trường có cân nhắc đến những đặc điểm này khi định giá tài sản hay công nợ tại thời điểm định giá.