Mở đầu của cuốn sách Southeast Asian in the Age of commerce: 1450 - 1680, Expansion and Crisis, Anthony Reid đã khẳng định “thương mại luôn luôn là sống còn cho Đông Nam Á” [80; tr. Ngay từ sớm, thương mại ở Đông Nam Á đã có mối liên hệ trực tiếp và sâu sắc với ba trung tâm kinh tế lớn của thị trường châu Á là Trung Hoa, Ấn Độ và bán đảo Arab. Điều này được lý giải, trước hết, bởi vị trí địa lý thuận lợi của Đông Nam Á. Đây được xem là chiếc cầu nối quan trọng giữa các thị trường ở châu Á thông qua các tuyến đường trên biển và trên bộ.
Bên cạnh đó, Đông Nam Á còn được biết đến với sự đa dạng các mặt hàng thương phẩm nhiệt đới như trầm hương, quế, long não, đinh hương, nhục đậu khấu, tô mộc… [80], [16]; cùng với đó là sự hoạt động tích cực của các thương nhân có nguồn gốc Malayu, thương nhân Đông Nam Á bản địa. Sự thành công của những phát kiến địa lý của người châu Âu trong thế kỷ XV - XVI đã tạo nên một sung lực mạnh mẽ cho nhiều thay đổi về kinh tế, chính trị ở các xã hội phương Đông và phương Tây. Thực tế là, không phải đợi đến thế kỷ XV - XVI, quan hệ giao thương giữa phương Đông và phương Tây mới diễn ra nhưng cách thức giao thương bằng đường biển giữa các châu lục thông qua sự hoạt động của thuyền buồm đã tạo nên những nhân tố mới của hoạt động buôn bán. Từ nhiều thế kỷ, các đoàn thương nhân cùng với lạc đà chở đầy hàng hóa phương Đông (đặc biệt là tơ lụa Trung Quốc) đã băng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qua sa mạc, núi cao vùng lục địa ở Tây Á để đến phương Tây.
Tuy nhiên, đến thế kỷ XV, con đường này gặp phải những trở ngại và rất nguy hiểm bởi sự chiếm giữ của dân du mục Apganistan, cũng như người Thổ Nhĩ Kỳ chiếm lĩnh con đường qua Hắc Hải, vịnh Ba Tư [30; tr. Một con đường khác cũng được người châu Âu khai thác để tìm kiếm các mặt hàng châu Á đó là con đường qua Địa Trung Hải. Tuy nhiên, tuyến đường thương mại này chỉ được hoạt động thông qua sự môi giới của các lái buôn Arab vì họ hầu như kiểm soát toàn bộ con đường buôn bán phía Nam sang Ấn Độ hoặc qua Ai Cập và biển Đỏ. “Người Arab trở thành những kẻ lũng đoạn hàng hóa Ấn Độ, châu Âu phải mua lại hàng hóa đó với giá đắt gấp từ 8 đến 10 lần” [30; tr.
Sự khó khăn trong việc giao thương giữa thị trường Đông - Tây không làm giảm bớt nhu cầu về những mặt hàng xa xỉ phẩm như gia vị, tơ lụa, châu ngọc từ phương Đông, trái lại giới quý tộc phong kiến châu Âu vẫn tiêu thụ một khối lượng lớn các mặt hàng xa xỉ phẩm này. Việc hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, trong khi nhu cầu thì không giảm đi đã khiến cho các thương vụ buôn bán sản phẩm từ châu Á càng trở nên có giá trị cũng như mang lại lợi nhuận cao cho các thương nhân tại thị trường phương Tây. Đến thế kỷ XV, nền kinh tế phong kiến châu Âu bắt đầu đi vào thế yếu, các phường hội không còn ý nghĩa lớn, bắt đầu có những biểu hiện manh nha của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thay vào đó là các công trường thủ công mà đại diện là các thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực. Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đang đòi hỏi một sự “tích lũy nguyên thủy tư bản” - tìm kiếm nguồn vốn, nguyên liệu mới và vươn tới những vùng đất giàu tài nguyên, hàng hóa quý hiếm.
Đặc biệt trong quá trình đó, việc đạt được lợi nhuận cao nhất, nhanh chóng xác lập địa vị chính trị và tôn giáo của giai cấp tư sản và sự định hình của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là những đòi hỏi bức thiết đối với các nước Tây Âu thời kỳ này. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là hai đế quốc đi tiên phong trên mặt biển, nhằm tìm kiếm những vùng đất, thị trường mới. Dưới những tác động, yêu cầu nội tại, người phương Tây đã vận dụng những tiến bộ của khoa học địa lý, thiên văn, kỹ thuật hàng hải vào công cuộc tìm kiếm con đường đi sang phương Đông và dần hình thành những tuyến đường thương mại quan trọng trên biển mạng phạm vi toàn cầu, đưa Đông Nam Á dự nhập vào mạng lưới thương mại Thế giới. Từ thế kỷ XV, người Bồ Đào Nha đã bắt đầu những cuộc thám hiểm thăm dò bờ biển châu Phi, thành lập những khoa nghiên cứu về hàng hải, thiên văn, địa lý nhằm phát triển kỹ thuật hàng hải và tìm đường sang Ấn Độ.
Những nỗ lực của người Bồ Đào Nha trong việc tìm kiếm con đường biển này đã trở thành hiện thực vào cuối thế kỷ XV khi mà những chiếc thuyền của thuyền trưởng Vasco da Gama đã cập bến Calicut trên bờ biển Malaba của Ấn Độ vào ngày 20 - 5 - 1498. Nhờ việc tìm ra con đường đến Ấn Độ, người Bồ Đào Nha có cơ hội tiếp tục giong buồm đến Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật Bản và thành lập những thương điếm của họ tại các thị trường này trong thế kỷ XVI. Từ năm 1511 Malaca trở thành cảng neo đậu của nhiều thương thuyền từ phương Tây đến và những quần đảo ở Đông Nam Á được biết đến như là những “đảo hương liệu” (Spice Islands). Hương liệu được xem là sản phẩm quan trọng, có giá trị tương đương với vàng trên tuyến thương mại giữa châu Âu và châu Á.
Từ khoảng năm 1515, trung bình mỗi năm có khoảng 3 đến 4 chiếc thuyền buôn cỡ lớn dời cảng Lisbon và Goa với rất nhiều bạc để đổi lấy vải vóc và hương liệu ở Ấn độ, đặc biệt là hạt tiêu đen [87]. Sau khi chiếm được Macao, năm 1557, Bồ Đào Nha càng khẳng định được vị trí của minh trong tuyến thương mại ở châu Á thông qua việc thực hiện các chuyến 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hải hành Quảng Châu - Goa - Lisbon; Quảng Châu - Nagasaki và Macao - Manila - Mexico. Cùng với người Bồ Đào Nha, những người Tây Ban Nha cũng thực hiện những cuộc hành trình băng qua Thái Bình Dương với hy vọng tìm đến được bờ phía Đông của Trung Quốc. Đoàn thám hiểm của Ferdinand Magellan gồm 5 thuyền và hơn 200 thủy thủ đã lên đường vào năm 1519, vòng qua bờ biển Nam Mỹ để đến Thái Bình Dương.
Sau những ngày dài trên đại dương, trải qua nhiều khó khăn họ đã cập bến quần đảo Phillipines vào tháng 3 năm 1520. Tuyến đường này được người Tây Ban Nha khai thác có hiệu quả kể từ năm 1565, khi mà Philippines chịu ảnh hưởng và kiểm soát của Tây Ban Nha. Hàng hóa Trung Quốc được đổi bằng bạc lấy từ Tân Thế Giới, rồi được chuyển qua Phiplippies, Mexico và chuyên chở đến Tây Ban Nha. Hàng hóa trên tuyến đường đó không chỉ có các sản phầm từ Trung Quốc mà còn có cả những mặt hàng của thế giới Đông Nam Á.
Tuyến đường biển dài ngày này đã được người Tây Ban Nha khai thác có hiệu quả, góp phần đưa Philippines, Trung Quốc nói riêng và Đông Nam Á hay Đông Á nói chung dự nhập vào mạng lưới thương mại toàn cầu, kết nối với châu Mỹ, châu Âu. Nó chỉ thực sự bị gián đoạn cho đến khi cuộc chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha nổ ra vào năm 1898. Tiếp sau những phát kiến và tìm kiếm thị trường mới của người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, các nước châu Âu khác cũng tích cực tham gia vào quá trình mở rộng ảnh hưởng sang các châu Á và châu Mỹ. Mặc dù đến phương Đông muộn hơn hai nước ở bán đảo Iberia nhưng Anh, Hà Lan, Pháp lại có bước tiến mạnh mẽ ở đây dựa trên nguồn lực dồi dào về kinh tế cũng như sự thúc đẩy sau sự thành công của các cuộc cách mạng tư sản.
Nếu như 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thế kỷ XVII, ở châu Âu, chứng kiến sự suy yếu của Tây Ban Nha thì lại chứng kiến sự nổi lên của một số đế chế như Russian, German, Amstatedam…; ở phương Đông là sự ra đời của hàng loạt các công ty Đông Ấn thiết lập bởi người Anh (1600), người Hà Lan (1602), người Pháp (1642). Các công ty Đông Ấn đã xây dựng những mối giao thương ổn định, có hiệu quả với các nước Đông Á và Đông Nam Á thông qua việc phát triển thương điếm của họ ở một số quốc gia. Vai trò của thương nhân phương Tây lúc này đã thật sự quan trọng với thị trường châu Á. Nó không chỉ được thể hiện trên các hoạt động trao đổi thương mại mà còn tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội, tinh thần, khoa học kỹ thuật… Trong khu vực, sự khuyến khích của chính quyền Nhật Bản về việc giao thương với các nước Đông Nam Á đã khiến cho số lượng thuyền buồm của thương nhân người Nhật ngày càng nhiều.
Từ năm 1596 đến năm 1598, đã có đến 10 thuyền vượt biển mỗi năm từ Satsuma tới Luzon, Cochinchina, Macao, Cao Miên và Xiêm [41; tr. Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã khuyến khích các thương gia người Nhật giao thương với người Hoa thông qua việc gửi các châu ấn thuyền tới các cảng Đông Nam Á. Hàng hóa, thương nhân cũng như thuyền bè của Trung Hoa, Nhật Bản có dịp tụ hội ở nhiều các cảng biển của Đông Nam Á. Chỉ tính riêng các mặt hàng “xa xỉ phẩm” mà người Nhật tìm mua ở các nước trong vùng Đông Nam Á cũng đã đến ba mươi ba loại, trong đó phần nhiều là từ thị trường Xiêm và Cao Mên [41; tr.
Bảng thống kê sản phẩm người Nhật tìm mua tại các nước Đông Nam Á [41; tr. 97] Đàng Cao Đàng Stt Sản phẩm Champa Xiêm Patani Ngoài Mên Trong 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.