CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận của việc sử dụng kiến thức liên môn để gây hứng thú học tập lịch sử ở trường trung học phổ thông 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về kiến thức “Kiến thức” là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong khoa học cũng như trong đời sống.
Tuy nhiên, để trả lời câu hỏi “Kiến thức là gì?” thì lại có nhiều quan niệm dựa trên cách tiếp cận khác nhau. Theo nghĩa giáo dục học “Kiến thức là sự thông hiểu và lưu trữ trong trí nhớ những sự kiện cơ bản của khoa học và những quy tắc kết luận và quy luật xuất xứ từ những sự kiện ấy” [10, tr. Theo định nghĩa sinh lý học: “kiến thức” chẳng qua là một dạng nhất định của những mối liên hệ tạm thời, được tạo trên vỏ các bán cầu đại não do ảnh hưởng của những kích thích bên ngoài và hoạt động tư duy tích cực của chủ thể đang nhận thức. Theo từ điển Tiếng Việt: kiến thức là điều thấy và biết tri thức - là điều hiểu biết do tìm hiểu, học tập mà nên [6, tr.
Trong cuốn “Giáo dục học” tác giả Phạm Viết Vượng quan niệm: “kiến thức” là hệ thống những khái niệm, phạm trù, những quy tắc, lí thuyết của từng môn học mà học sinh cần phải học tập nắm vững. Kết quả học tập môn học được đánh giá bằng khả năng nhận thức của học sinh với số lượng và chất lượng kiến thức đó [29, tr. Như vậy, các định nghĩa trên (định nghĩa triết học, giáo dục, sinh lý học) về khái niệm này, định nghĩa nào cũng nhấn mạnh theo từng vấn đề khác nhau song có ý nghĩa lớn đối với việc phát hiện ra những quy luật của sự học tập, coi như quá trình hoạt động nhận thức. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc điểm riêng và quan trọng nhất của kiến thức là chúng tác động như vũ khí và phương tiện giúp con người chinh phục tự nhiên và biến đổi thực tế chung quanh và cũng tác động như cách thức tồn tại của bản thân con người.
Từ đó có thể hiểu kiến thức là những điều hiểu biết do quá trình học tập, tìm hiểu mà có. Khái niệm về kiến thức lịch sử Kiến thức lịch sử cũng như kiến thức của các môn học là một bộ phận trong ý thức xã hội. Nắm vững kiến thức lịch sử là tiền đề để hiểu đúng hiện thực lịch sử một cách khoa học. Nếu không có kiến thức lịch sử thì không thể hiểu sự phát triển tương lai của xã hội.
Kiến thức lịch sử phát triển theo trình độ nhận thức của con người. Khoa học lịch sử ra đời và phát triển trên cơ sở sắp xếp khái quát hóa, trừu tượng hóa những kiến thức lịch sử để rút ra quy luật phát triển xã hội. Kiến thức lịch sử là yếu tố quan trọng nhất để giáo dục tư tưởng chính trị, hình thành thế giới quan khoa học. Nó không chỉ là phương tiện nhận thức xã hội mà còn là vũ khí đấu tranh để cải tạo xã hội.
Kiến thức của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông là những hiểu biết của học sinh về lịch sử phát triển của xã hội loài người, được khoa học lịch sử xác nhận và ghi chép trong các cuốn sách giáo khoa lịch sử mới nhất. Kiến thức lịch sử ở trường phổ thông gồm có nhiều yếu tố: sự kiện, nhân vật, địa điểm, thời gian, khái niệm… phản ánh sự hiểu biết về những lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa… [7, tr. Kiến thức lịch sử phát triển theo trình độ nhận thức của con người. “Một trong những mặt quan trọng của lịch sử là sưu tầm và nghiên cứu các sự kiện, những tế bào cơ bản của hiện thực.
Sự kiện có thể coi là nguyên liệu để hình thành tri thức khoa học” [21, tr. Như vậy, kiến thức lịch sử phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội, là kết quả của việc nghiên cứu khoa học lịch sử, được sử dụng vào nhận thức và hoạt động xã hội giúp cho con người hiểu một cách đầy đủ về quá trình phát 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển của lịch sử loài người. Khái niệm về kiến thức liên môn Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông cung cấp cho học sinh những tri thức về nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc và thế giới. Vì vậy, kiến thức lịch sử không chỉ liên quan đến tri thức về khoa học xã hội mà cả về khoa học tự nhiên.
Mối liên hệ giữa các môn, các khóa trình được thể hiện trong các bài, đặc biệt các bài về cách mạng, về văn hóa, khoa học. Vấn đề quan trọng nhất của dạy học liên môn là tìm những khái niệm, những tư tưởng chung có trong môn học. Những kiến thức được đề cập đến các môn học đó bổ sung cho nhau, làm sáng rõ hơn kiến thức mà học sinh học được trong mỗi môn học. Có như vậy học sinh nắm kiến thức mới vững chắc và việc giáo dục tư tưởng thông qua môn học mới có kết quả.
Đối với học sinh, kiến thức liên môn giúp các em nhận thức sự phát triển của xã hội một cách liên tục, thống nhất, hiểu được tính toàn diện của lịch sử. Điều này khắc phục được tình trạng rời rạc, tản mạn trong kiến thức của học sinh. Nắm được mối liên hệ kiến thức giữa các môn học, tính hệ thống giữa các tri thức lịch sử sẽ giúp học sinh có khả năng phân tích các sự kiện, tìm ra bản chất, quy luật chi phối sự phát triển của lịch sử. Như vậy, kiến thức liên môn là mối liên hệ kiến thức giữa các môn học.
Sử dụng kiến thức liên môn bằng con đường tích hợp những nội dung kiến thức từ một số môn học để làm rõ kiến thức của một số môn học nào đó. Ở nước ta, nguyên tắc tích hợp được thực hiện ở mức độ thấp. Vì vậy, nguyên tắc liên môn được chú trọng nhiều, nhằm làm cho kiến thức các môn bổ sung cho nhau, hiểu sâu sắc hơn các sự kiện đang học. Trong môn Lịch sử, việc dạy học theo nguyên tắc liên môn và thực hiện “tính kế thừa” trong nhận thức làm cho học sinh hiểu sự phát triển của xã hội một cách liên tục, thống nhất.
Như vậy, kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử là kiến thức giữa các môn học có cùng tư tưởng, quan điểm. Nắm được mối liên hệ giữa kiến thức 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của các môn có liên quan, tính hệ thống của tri thức lịch sử sẽ giúp cho học sinh có khả năng phân tích các sự kiện, tìm ra bản chất, quy luật chi phối sự phát triển của lịch sử. Khái niệm về hứng thú Hiện nay, để nâng cao chất lượng dạy học, vấn đề hứng thú đang được các nhà giáo dục học quan tâm nghiên cứu. Bởi hứng thú là một hiện tượng tâm lý phức tạp.
Trên thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về hứng thú: Trong cuốn “Vấn đề hứng thú nhận thức trong giáo dục học” G. Sukina nhấn mạnh: “Hứng thú - đó là sự kết hợp độc đáo các quá trình tình cảm - ý chí và quá trình trí lực, tính tích cực nhận thức và hoạt động của con người được nâng cao” và “đó là thái độ riêng của cá nhân đối với đối tượng, ý thức được ý nghĩa cuộc sống và sự hấp dẫn về tình cảm gây ra” [3, tr. 4] Kharlamốp đã nêu: “Hứng thú - đó là nhu cầu nhuốm màu sắc xúc cảm đi trước giai đoạn gây động cơ và làm cho hoạt động của con người có tính chất hấp dẫn” [11, tr. “Điều đó gây cho các em niềm vui sướng, sự hưng phấn xúc cảm và kích thích tính tích cực nhận thức” [11, tr.
Tương tự, trong cuốn “Phương pháp đọc sách”, A. Rimacôpxki cho rằng “Lòng ham mê, thích thú môn học và sự thấm nhuần mục đích học tập sẽ giúp người ta khắc phục khó khăn, nâng cao được năng lực làm việc” [1, tr. Như vậy, việc nghiên cứu cho thấy rằng dưới ảnh hưởng của hứng thú nhận thức, việc học tập của học sinh diễn ra dễ dàng hơn, thoải mái hơn, nhanh chóng hơn và có hiệu quả hơn. “Hứng thú không xuất hiện một cách ngẫu nhiên.
Điều kiện quan trọng nhất để hình thành các hứng thú nhận thức là trình độ dạy học cao, nội dung có tính khoa học, tổ chức hợp lí việc học sinh nhận thức tích cực và độc lập” [21, tr. Giáo viên cần phải biết rõ khả năng nhận thức của học sinh và đặt ra trong học tập những nhiệm vụ vừa sức đối với từng em, dần dần phức tạp hóa chúng theo mức độ phát triển trí tuệ của học sinh. Để đạt được điều đó người giáo viên phải biết gây hứng thú, tạo được niềm vui sướng cho học sinh trong 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quá trình học tập, chỉ cho các em thấy việc học tập có ý nghĩa như thế nào đối với xã hội và đối với từng em. Luật giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2009, tại kì họp thứ 6, Quốc hội khóa XII, ở Điều 28 - Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [14, tr.
Để gây hứng thú cho học sinh, chúng ta phải “.giúp học sinh cảm xúc niềm vui sướng của sự thành công, tin tưởng vào sức của mình, vào khả năng vượt qua khó khăn sẽ gặp” [11, tr. Như vậy hứng thú học tập là một yếu tố rất quan trọng. Vì hứng thú là tiền đề của tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực.
Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là tư duy của sáng tạo. Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dư ng động cơ học tập.