Nghiên cứu: Sử dụng gạo lứt thay thế ngô trong khẩu phần gà thịt F1 (Ri x Lương Phượng)

Phân tích hiệu quả dùng gạo lứt thay ngô trong chăn nuôi gà thịt. Nghiên cứu tác động đến tăng trưởng, chi phí và chất lượng thịt thành phẩm.

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

78
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

Mục tiêu của đề tài

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Ý nghĩa thực tiễn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Cơ sở khoa học của đề tài

Khả năng thay thế ngô bằng gạo lức trong chăn nuôi gà thịt

Cơ sở khoa học về sự sinh trưởng và sức sản xuất của gà

Cơ sở khoa học về dinh dưỡng và thức ăn cho gà thịt

Tình hình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu ngô, lúa gạo của Việt Nam và Thế giới

Nguồn gốc, đặc điểm, khả năng sản xuất của gà F1(Ri x LP)

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về sử dụng gạo lức, thóc trong chăn nuôi

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Tình hình nghiên cứu trong nước

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Kết quả phân tích một số thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của khẩu phần thức ăn sử dụng trong thí nghiệm

Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi

Sinh trưởng của gà thí nghiệm

Sinh trưởng tích lũy

Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm

Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm

Kết quả thu nhận và chuyển hóa thức ăn của gà thí nghiệm

Kết quả thu nhận thức ăn của gà thí nghiệm

Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm

Chỉ số sản xuất (PI) của gà thí nghiệm ở giai đoạn 10 - 12 tuần tuổi

Kết quả mổ khảo khảo sát để đánh giá một số chỉ tiêu về năng suất thịt và chất lượng thịt

Sơ bộ tính chi phí trực tiếp và hạch toán kinh tế

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Gạo Lứt Thay Thế Ngô Cho Gà Thịt F1

Việt Nam là một cường quốc sản xuất lúa gạo, tuy nhiên, nghịch lý là vẫn phải nhập khẩu lượng lớn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, đặc biệt là ngô (bắp). Giá ngô biến động, gây ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi trong nước. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tiềm năng sử dụng gạo lứt thay thế ngô trong thức ăn cho lợn và vịt. Gạo lứt có giá trị dinh dưỡng tương đương ngô, thậm chí tốt hơn về một số mặt. Gạo lứt giúp mỡ thân thịt của gia súc, gia cầm cứng hơn, dễ chế biến. Hơn nữa, tỷ lệ gạo lứt trên thóc hạt rất cao. Hiện tại, giá gạo lứt cao hơn ngô, nhưng việc nghiên cứu sử dụng gạo lứt thay thế ngô trong chăn nuôi là cần thiết để khai thác tiềm năng lúa gạo dồi dào của Việt Nam. Đề tài "Nghiên cứu sử dụng gạo lứt thay thế ngô trong khẩu phần thức ăn để nuôi gà thịt F1 (Ri x Lương Phượng)" được thực hiện nhằm mục tiêu xác định hiệu quả và khả năng thay thế ngô bằng gạo lứt trong khẩu phần nuôi gà thịt lông màu.

1.1. Tiềm năng của gạo lứt trong chăn nuôi gà thịt

Gạo lứt là loại gạo chỉ xay bỏ vỏ trấu, giữ lại lớp cám giàu dinh dưỡng. Thành phần dinh dưỡng của gạo lứt bao gồm tinh bột, đạm, béo, xơ, vitamin B, axit pantothenic, paraaminobenzoic, folic, phytic, và các nguyên tố vi lượng như canxi, sắt, magiê, selen, glutathion, kali, natri. So sánh gạo lứtngô về năng lượng, protein thô, chất béo, chất xơ, chất khoáng, cho thấy các chỉ tiêu này tương đương nhau. Giá trị năng lượng tiêu hóa (TDN) trên lợn, bò và năng lượng trao đổi (TDN) trên gia cầm cũng gần như tương đương (Vũ Duy Giảng, 2012). Tuy nhiên, gạo lứt thiếu sắc tố vàng (xanthophille, criptoxanthine) có trong ngô, ảnh hưởng đến màu da gà và lòng đỏ trứng. Điều này có thể khắc phục bằng cách bổ sung gluten ngô hoặc thức ăn xanh.

1.2. Cơ sở khoa học của việc thay thế ngô bằng gạo lứt

Điểm yếu của gạo lứt so với ngô là thiếu sắc tố vàng, nhưng có thể khắc phục được. Hàm lượng xơ thô của gạo lứt thấp hơn ngô. Thành phần acid amin thiết yếu của gạo lứtngô có chênh lệch, nhưng tổng 16 acid amin của gạo lứt cao hơn ngô gần 4%. Gạo lứt nghèo chất béo hơn ngô (2% so với 4%), nhưng hàm lượng acid béo no cao hơn. Hàm lượng acid béo chưa no lại thấp hơn ngô, giúp mỡ thân thịt của gia súc, gia cầm vỗ béo cứng hơn, dễ chế biến. Xét về dinh dưỡng, khả năng sử dụng gạo lứt thay thế ngô trong chăn nuôi là hoàn toàn khả thi.

II. Thách Thức Giảm Chi Phí Chăn Nuôi Gà Thịt Bằng Gạo Lứt

Một trong những thách thức lớn nhất của ngành chăn nuôi gà thịt hiện nay là chi phí thức ăn. Chi phí này chiếm phần lớn trong tổng chi phí chăn nuôi. Việc tìm kiếm nguồn thức ăn thay thế, có giá thành hợp lý và đảm bảo dinh dưỡng là rất quan trọng. Gạo lứt là một nguồn tiềm năng, nhưng giá thành hiện tại vẫn còn cao hơn so với ngô. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng gạo lứt thay thế ngô trong khẩu phần thức ăn chăn nuôi, từ đó đưa ra giải pháp giảm chi phí chăn nuôi gà thịt.

2.1. Vấn đề nhập khẩu ngô và sự phụ thuộc vào thị trường thế giới

Việt Nam, mặc dù là nước xuất khẩu gạo lớn, vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn ngô để phục vụ ngành chăn nuôi. Điều này tạo ra sự phụ thuộc vào thị trường thế giới, khiến giá cả thức ăn chăn nuôi dễ bị biến động. Việc chủ động nguồn cung thức ăn chăn nuôi trong nước là rất quan trọng để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của ngành.

2.2. Giá gạo lứt cao và bài toán kinh tế cho người chăn nuôi

Hiện tại, giá gạo lứt cao hơn so với ngô, khiến nhiều người chăn nuôi e ngại khi sử dụng. Tuy nhiên, cần xem xét tổng thể các yếu tố như năng suất gà thịt, chất lượng thịt, và các chi phí khác để đánh giá hiệu quả kinh tế một cách chính xác. Nếu gạo lứt giúp tăng năng suất hoặc cải thiện chất lượng thịt, thì có thể bù đắp được chi phí cao hơn.

2.3. Đánh giá toàn diện chi phí và lợi ích từ gạo lứt

Nghiên cứu cần đánh giá toàn diện các chi phí liên quan đến việc sử dụng gạo lứt so với ngô, bao gồm: giá thành nguyên liệu, chi phí chế biến, chi phí vận chuyển. Đồng thời, cần đánh giá các lợi ích như năng suất tăng, chất lượng thịt được cải thiện, giảm thiểu rủi ro từ biến động giá ngô. Từ đó, có thể đưa ra kết luận về tính khả thi kinh tế của việc sử dụng gạo lứt trong chăn nuôi gà thịt.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Sử Dụng Gạo Lứt Thay Ngô Đánh Giá Hiệu Quả

Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm thực nghiệm, khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Hùng Vương, Phú Thọ từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân lô so sánh theo mô hình bố trí thí nghiệm một nhân tố kiểu ngẫu nhiên đầy đủ. sử dụng thức ăn đậm đặc cho ta S99 - Vinafeed của công ty RTD. Đánh giá ảnh hưởng của các mức gạo lứt thay thế ngô trong khẩu phần đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt của gà thịt F1 (Ri x LP).

3.1. Thiết kế thí nghiệm và các lô thí nghiệm sử dụng gạo lứt

Thí nghiệm được bố trí với 4 lô, mỗi lô 16 con F1 (Ri x Lương Phượng): lô đối chứng (0% gạo lứt, 100% ngô), lô TN1 (25% gạo lứt, 75% ngô), lô TN2 (50% gạo lứt, 50% ngô), lô TN3 (75% gạo lứt, 25% ngô). Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: Tỷ lệ nuôi sống, sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối, chỉ số sản xuất, tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ thịt đùi, tỷ lệ thịt ngực, tỷ lệ mỡ bụng, giá trị pH, tỷ lệ mất nước bảo quản, tỷ lệ mất nước chế biến.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu về dinh dưỡng và sinh trưởng

Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các khẩu phần thức ăn được xác định bằng phương pháp phân tích tại Khoa Công nghệ Sinh học và Công nghệ Thực phẩm - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Các số liệu về sinh trưởng và năng suất thịt được thu thập định kỳ và xử lý thống kê bằng phần mềm Minitab phiên bản 13.

IV. Kết Quả Hiệu Quả Sinh Trưởng Gà Thịt Khi Dùng Gạo Lứt

Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh trưởng tích lũy của gà thịt qua các tuần tuổi, ở tất cả các lô đều tăng dần qua các tuần tuổi. Khối lượng trung bình của ở 4 lô là thấp nhất và đồng đều nhau (35,56 - 36,23 g/con). Tại thời điểm kết thúc thí nghiệm (lúc 12 tuần tuổi), sinh trưởng tích lũy trung bình của ở lô đối chứng đạt cao nhất (1715,10 g/con), tiếp đến là các lô thí nghiệm 1 (1657,29 g/con), lô thí nghiệm 2 (1641,15 g/con) và lô thí nghiệm 3 đạt (1631,77 g/con).

4.1. So sánh sinh trưởng tích lũy giữa các lô có tỷ lệ gạo lứt khác nhau

Sau 12 tuần tuổi nuôi thử nghiệm, gà sử dụng thức ăn với khẩu phần chỉ sử dụng ngô (lô ĐC) và các khẩu phần thay thế ngô/gạo lứt với các tỉ lệ (25%, 50%, 75%) như ở các lô TN1, TN2, TN3, gà được ăn tự do, thì sinh trưởng tích lũy của gà ở các lô là tương đương nhau. Do đó, hoàn toàn có thể sử dụng các khẩu phần kết hợp hoặc thay thế ngôgạo lứt để chăn nuôi .

4.2. Đánh giá sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của gà thí nghiệm

Nhìn chung, sinh trưởng tuyệt đối của ở các lô đều tăng liên tục từ tuần 1 đến tuần 9, và có xu hướng giảm dần từ tuần tuổi 10. Ở tuần tuổi đầu tiên sinh trưởng tuyệt đối ở cả 4 lô tương đối đồng đều và thấp nhất trong toàn bộ quá trình sinh trưởng của .Tuy nhiên, sinh trưởng tuyệt đối giảm dần và đạt thấp nhất ở tuần tuổi thứ 12.

V. Ứng Dụng Quy Trình Chăn Nuôi Gà Thịt Hiệu Quả Bằng Gạo Lứt

Từ kết quả nghiên cứu, có thể xây dựng quy trình chăn nuôi gà thịt hiệu quả bằng gạo lứt. Quy trình này cần chú trọng đến việc cân bằng dinh dưỡng, đảm bảo cung cấp đủ năng lượng, protein và các khoáng chất cần thiết cho . Đồng thời, cần theo dõi sát sao tình trạng sức khỏe của , phòng ngừa dịch bệnh và đảm bảo vệ sinh chuồng trại.

5.1. Xây dựng chế độ ăn uống cân bằng cho gà thịt với gạo lứt

Xây dựng chế độ ăn uống cân bằng với tỷ lệ gạo lứt/ngô phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của . Giai đoạn úm cần tỷ lệ protein cao, giai đoạn vỗ béo cần tỷ lệ năng lượng cao. Bổ sung vitamin và khoáng chất để đảm bảo phát triển khỏe mạnh.

5.2. Chú trọng chăm sóc sức khỏe và phòng ngừa dịch bệnh cho gà

Tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin, đảm bảo vệ sinh chuồng trại, kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm, cung cấp đủ nước sạch. Theo dõi sát sao tình trạng sức khỏe của , phát hiện sớm và điều trị kịp thời các bệnh thường gặp.

5.3. Theo dõi sát sao các chỉ số và đánh giá định kỳ hiệu quả nuôi gà

Theo dõi thường xuyên các chỉ số sinh trưởng của gà như tăng khối lượng, tiêu tốn thức ăn, tỉ lệ sống sót, … Đánh giá định kỳ hiệu quả chăn nuôi và thay đổi thức ăn và qui trình chăm sóc cho phù hợp.

VI. Kết Luận Gạo Lứt Giải Pháp Tiềm Năng Cho Gà Thịt

Kết quả nghiên cứu cho thấy gạo lứt là một giải pháp tiềm năng thay thế ngô trong khẩu phần thức ăn chăn nuôi gà thịt. Việc sử dụng gạo lứt không ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của . Cần có thêm các nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả kinh tế và chất lượng thịt để đưa ra kết luận chính xác và khuyến nghị cho người chăn nuôi.

6.1. Tổng kết những lợi ích và hạn chế của việc sử dụng gạo lứt

Lợi ích của việc sử dụng gạo lứt: Giảm phụ thuộc vào ngô nhập khẩu, tận dụng nguồn lực lúa gạo trong nước, có thể cải thiện chất lượng thịt. Hạn chế: Giá thành hiện tại còn cao, cần có quy trình chế biến phù hợp.

6.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo và khuyến nghị cho người chăn nuôi

Tiếp tục nghiên cứu về hiệu quả kinh tế, chất lượng thịt. Khuyến nghị cho người chăn nuôi: Thử nghiệm sử dụng gạo lứt ở quy mô nhỏ, theo dõi sát sao và đánh giá hiệu quả trước khi áp dụng rộng rãi.

22/09/2025
Nghiên cứu sử dụng gạo lức thay thế ngô trong khẩu phần thức ăn không cân bằng me và cp để nuôi gà thịt f1 ri x lương phượng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khả năng thay thế ngô bằng gạo lức trong chăn nuôi gà thịt 1. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của gạo lức Gạo lức hay còn gọi là gạo rằn, gạo lật là loại gạo chỉ xay bỏ vỏ trấu, chưa được xát bỏ lớp cám gạo.

Đây là loại gạo rất giàu dinh dưỡng đặc biệt là các sinh tố và nguyên tố vi lượng. Thành phần của gạo lức gồm chất tinh bột, chất đạm, chất béo, chất xơ cùng các vitamin như B1, B2, B3, B6; các axit như pantothenic (vitamin B5), paraaminobenzoic (PABA), folic (vitamin B4), phytic; các nguyên tố vi lượng như canxi, sắt, magiê, selen, glutathion (GSH), kali và natri. Thành phầ n hóa ho ̣c và giá trị dinh dưỡng của ga ̣o lức và ngô Thành phần hóa học Đơn vị Gạo tẻ lức Ngô tẻ Vật chất khô (DM) % 86,38 88,11 Protein thô (CP) % 8,61 9,27 Lipit thô (EE) % 2,30 4,21 Xơ thô (CF) % 1,60 3,05 Dẫn xuất không đạm (NFE) % 73,57 70,08 Khoáng tổng số (Ash) % 1,30 1,50 Can xi (Ca) % 0,06 0,09 Phốt pho (P) % 0,24 0,15 Năng lượng TĐ trong 100 g Kcal 327,10 332,90 TA (ME/100 g) Lysine % - 2,5 Methionine % - 1,56 (Nguồn: Viện chăn nuôi quốc gia, 2001 [50]) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Cơ sở của việc sử dụng gạo lức cho chăn nuôi Thóc và phụ phẩm của ngành chế biến thóc gạo bao gồm: Vỏ trấu (husk, 20%), gạo lức (brown rice, 80%), cám bổi (polard, 11%), cám mịn (rice polishing, 8%), cám thô (bran, 3%), tấm (crack rice, 2%), gạo trắng (white rice, 67%).

Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của gạo lức và ngô được đánh giá ở các chỉ tiêu năng lượng, protein thô, chất béo, chất chiết không nitơ, chất xơ, chất khoáng. So với ngô, gạo lức có các chỉ tiêu trên hầu như tương đương, đặc biệt giá trị năng lượng dạng tiêu hóa (biểu thị bằng TDN trên lợn, bò), dạng trao đổi (biểu thị bằng TDN trên gia cầm) (Vũ Duy Giảng, 2012 [20]). Phu ̣ phẩ m của ngành xay sát thóc Hin (Nguồn: Floukes, 1998 [62]) Điểm yếu của gạo lức so với ngô là gạo lức không có sắc chất vàng (xanthophille và criptoxanthine…). Trong 1 kg ngô đỏ hay vàng có 20 - 30 mg sắc tố, nhưng trong gạo gần như không có (2 - 3 mg/kg).

Sắc tố tuy không cung cấp năng lượng hay các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể gia cầm, nhưng lại có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Thiếu sắc tố sẽ làm da gà có mầu trắng và lòng đỏ trứng có mầu vàng rất nhạt. Điều này làm giảm chất lượng sản phẩm và không hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, vấn đề này hoàn toàn có thể giải quyết được trong chăn nuôi hiện nay.

Chúng ta có thể sử dụng gluten ngô, phụ phẩm chế biến ethanol và các loại bột thức ăn xanh để bổ sung thêm sắc tố trong khẩu phần ăn cho gia cầm. Đối với chăn nuôi gà thả vườn, các sắc chất này có thể được thay thế bằng các hợp chất có tác dụng tương đương từ cây cỏ, thức ăn xanh tự nhiên nên không ảnh hưởng. Hàm lượng xơ thô của gạo lức thấp hơn ngô. Thành phần acid amin thiết yếu của gạo lức Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 và ngô có sự chênh lệch nhau, lysine và methionine của gạo lức thấp hơn của ngô, nhưng hàm lượng threonine và tryptophan lại cao hơn của ngô và tổng 16 acid amin của gạo lức cao hơn của ngô gần 4%.

Thành phần các acid amin thiết yếu trong ngô và gạo lức Thành phần Ngô hạt Gạo lức Thành phần Ngô hạt Gạo lức Độ ẩm % 11,8 11,7 Protein thô % 7,93 8,0 Acid amin %: Aspartic acid 0,64 0,53 Isoleucine 0,31 0,28 Threonine 0,26 0,30 Leucine 0,60 1,03 Serine 0,27 0,37 Tryptophan 0,35 0,38 Glutamic acid 1,28 1,55 Phenylalanine 0,40 0,47 Glycine 0,38 0,30 Histidine 0,27 0,28 Alanine 0,49 0,62 Lysine 0,31 0,25 Valine 0,46 0,34 Arginine 0,60 0,35 Methionine 0,24 0,17 Cystine 0,57 0,49 Tổng acid amin 7,46 7,75 (Nguồn: Piao và cs. Hàm lượng acid béo trong ngô và gạo lức Thành phần Ngô hạt Gạo lức Thành phần Ngô hạt Gạo lức Acid béo no Acid béo chưa no C16:0 1,3016 1,8931 - Một nối đôi C18:0 0,0824 0,1139 C16:1 0,5226 0,1169 Tổng acid béo C18:1 0,4087 0,7643 no 1,3840 2,0070 - Nhiều nối đôi C18:2 0,0286 0,0243 C18:3 0,4373 0,7886 Tổng - Tổng acid béo chưa no 0,9599 0,9055 Tỷ lệ acid béo chưa no/ acid béo no của ngô/gạo lức = 0,6936/0,4512 (Nguồn: Piao và cs., 2002 [72]) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 Gạo lức nghèo chất béo hơn ngô (2% so với 4%) và hàm lượng chất béo của gạo lức chỉ bằng 2/3 của ngô, nhưng hàm lượng acid béo no trong gạo lức lại cao hơn hẳn so với ngô (2,007 và 1,384). Tuy nhiên hàm lượng acid béo chưa no lại thấp hơn ngô (0,9055 và 0,9599), các acid béo chưa no của gạo lức chỉ cao hơn của ngô ở nhiều nối đôi C18 : 2, còn lại là một nối đôi C18 : 1 thì thấp hơn nhiều, nhiều nối đôi C18 : 3 thì tương đương nhau. Vì vậy khi động vật sử dụng gạo lức thay cho ngô thì mỡ thân thịt của gia súc, gia cầm vỗ béo cứng hơn và dễ chế biến hơn.

Đây chính là một cơ sở quan trọng để thay thế ngô trong khẩu phần vật nuôi bằng gạo lức. Như vậy, xét về mặt dinh dưỡng, khả năng sử dụng gạo lức thay thế ngô trong chăn nuôi là hoàn toàn khả thi. Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng và sức sản xuất thịt của gà Sức sản xuất của gà thịt được thể hiện ở khả năng sinh trưởng và khả năng cho thịt của gà. Khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm a) Khái niệm sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do quá trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật, đồng thời sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất dinh dưỡng chủ yếu là protein, nên tốc độ tích luỹ và sự tổng hợp các chất dinh dưỡng, protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [34]).

b) Ảnh hưởng của đặc điểm di truyền, dòng và giống đến sinh trưởng Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cơ thể gia cầm. Trần Đình Miên và cs (1975) [33] dẫn tài liệu của Swright chia các gen ảnh hưởng đến sinh trưởng của động vật thành ba loại: + Gen ảnh hưởng đến sự phát triển nói chung, đến các chiều, đến tính năng lý học các chiều. + Gen ảnh hưởng theo nhóm. + Gen ảnh hưởng đến một vài tính trạng riêng rẽ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 Theo Nguyễn Ân và cs (1983) [2]; Nguyễn Ân (1984) [3] thì các tính trạng năng suất là các tính trạng số lượng như khối lượng cơ thể, kích thước, chiều đo. Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995) [35] cho biết: Các tính trạng số lượng chi phối bởi nhiều gen. Các gen này hoạt động theo ba phương thức đó là sự cộng gộp, trội, lặn và tương tác giữa các gen. G=A+D+I Trong đó: G là giá trị kiểu gen (genotypic value); A là giá trị cộng gộp (addi- tive value); D là giá trị sai lệch trội (dominance deviation value); I là giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation value) Trong thực tế sản xuất cũng như nghiên cứu, để xác định mức độ ảnh hưởng của di truyền đến sinh trưởng của vật nuôi, người ta sử dụng đại lượng hệ số di truyền (h2).

Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [26] khái quát: Hệ số di truyền là tỷ lệ của phần do gen quy định trong việc tạo nên giá trị kiểu hình. Sự tồn tại của các gen hoặc nhóm gen trong các dòng và giống gia cầm rất khác nhau. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đã chứng minh rất rõ vấn đề này. Nguyễn Huy Đạt và cs (1996) [15] nghiên cứu so sánh chỉ tiêu năng suất của gà thương phẩm thịt 4 giống gà AA, Lohmann, ISA Vedete và Avian nuôi trong cùng một điều kiện cho thấy, chỉ số sản xuất của gà broiler tại 49 ngày tuổi ở 4 giống gà là khác nhau: Gà broiler AA: 187,97, gà broiler Lohmann: 215,33, gà broiler ISA Vedete: 211,83, gà broiler Avian: 204,95.

Với gà lông màu qua các công trình nghiên cứu của Trần Công Xuân và cs (1997) [56] nghiên cứu hai dòng gà Tam Hoàng 882 và Jang Cun vàng đều cho kết luận rất rõ là các giống khác nhau và thậm chí trong cùng một giống thì các dòng khác nhau có tốc độ sinh trưởng khác nhau. c) Ảnh hưởng của thức ăn, môi trường và điều kiện nuôi dưỡng đến sinh trưởng và phát triển Các tính trạng số lượng, trong đó tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể gà chịu ảnh hưởng rất lớn các tác động của môi trường E (environment). Theo Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1998) [40], quan hệ giữa kiểu hình P (phenotype), kiểu gen G (gentype) và môi trường E (environment) được biểu thị bằng công thức: P = G + E. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [26], Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1998) [40], cho rằng căn cứ vào mức độ, tính chất ảnh hưởng lên cơ thể gia cầm, môi trường E được chia làm hai loại: - Môi trường chung Eg (genral environment) tác động thường xuyên, liên tục đến tất cả các cá thể trong quần thể.

- Môi trường đặc biệt Es (speccial environment) tác động đến một số cá thể riêng biệt nào đó trong quần thể trong một thời gian ngắn. Theo Lê Đình Lương, Phan Cự Nhân (1994) [31], các giống gia cầm đều nhận được từ tổ tiên, bố mẹ chúng một số gen quyết định tính trạng giống hoặc dòng, nhưng những khả năng đó có phát huy được hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào môi trường sống của chúng như thức ăn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và khí hậu. * Ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng sinh trưởng Thức ăn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài đến toàn bộ các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của gia cầm. Đặc biệt đối với gia cầm non, do không được bú mẹ như ở động vật có vú nên thức ăn của chúng ở giai đoạn đầu có tác dụng quyết định đến khả năng sinh trưởng và khối lượng cơ thể của chúng sau này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ