Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khả năng thay thế ngô bằng gạo lức trong chăn nuôi gà thịt 1. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của gạo lức Gạo lức hay còn gọi là gạo rằn, gạo lật là loại gạo chỉ xay bỏ vỏ trấu, chưa được xát bỏ lớp cám gạo.
Đây là loại gạo rất giàu dinh dưỡng đặc biệt là các sinh tố và nguyên tố vi lượng. Thành phần của gạo lức gồm chất tinh bột, chất đạm, chất béo, chất xơ cùng các vitamin như B1, B2, B3, B6; các axit như pantothenic (vitamin B5), paraaminobenzoic (PABA), folic (vitamin B4), phytic; các nguyên tố vi lượng như canxi, sắt, magiê, selen, glutathion (GSH), kali và natri. Thành phầ n hóa ho ̣c và giá trị dinh dưỡng của ga ̣o lức và ngô Thành phần hóa học Đơn vị Gạo tẻ lức Ngô tẻ Vật chất khô (DM) % 86,38 88,11 Protein thô (CP) % 8,61 9,27 Lipit thô (EE) % 2,30 4,21 Xơ thô (CF) % 1,60 3,05 Dẫn xuất không đạm (NFE) % 73,57 70,08 Khoáng tổng số (Ash) % 1,30 1,50 Can xi (Ca) % 0,06 0,09 Phốt pho (P) % 0,24 0,15 Năng lượng TĐ trong 100 g Kcal 327,10 332,90 TA (ME/100 g) Lysine % - 2,5 Methionine % - 1,56 (Nguồn: Viện chăn nuôi quốc gia, 2001 [50]) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www. Cơ sở của việc sử dụng gạo lức cho chăn nuôi Thóc và phụ phẩm của ngành chế biến thóc gạo bao gồm: Vỏ trấu (husk, 20%), gạo lức (brown rice, 80%), cám bổi (polard, 11%), cám mịn (rice polishing, 8%), cám thô (bran, 3%), tấm (crack rice, 2%), gạo trắng (white rice, 67%).
Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của gạo lức và ngô được đánh giá ở các chỉ tiêu năng lượng, protein thô, chất béo, chất chiết không nitơ, chất xơ, chất khoáng. So với ngô, gạo lức có các chỉ tiêu trên hầu như tương đương, đặc biệt giá trị năng lượng dạng tiêu hóa (biểu thị bằng TDN trên lợn, bò), dạng trao đổi (biểu thị bằng TDN trên gia cầm) (Vũ Duy Giảng, 2012 [20]). Phu ̣ phẩ m của ngành xay sát thóc Hin (Nguồn: Floukes, 1998 [62]) Điểm yếu của gạo lức so với ngô là gạo lức không có sắc chất vàng (xanthophille và criptoxanthine…). Trong 1 kg ngô đỏ hay vàng có 20 - 30 mg sắc tố, nhưng trong gạo gần như không có (2 - 3 mg/kg).
Sắc tố tuy không cung cấp năng lượng hay các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể gia cầm, nhưng lại có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Thiếu sắc tố sẽ làm da gà có mầu trắng và lòng đỏ trứng có mầu vàng rất nhạt. Điều này làm giảm chất lượng sản phẩm và không hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, vấn đề này hoàn toàn có thể giải quyết được trong chăn nuôi hiện nay.
Chúng ta có thể sử dụng gluten ngô, phụ phẩm chế biến ethanol và các loại bột thức ăn xanh để bổ sung thêm sắc tố trong khẩu phần ăn cho gia cầm. Đối với chăn nuôi gà thả vườn, các sắc chất này có thể được thay thế bằng các hợp chất có tác dụng tương đương từ cây cỏ, thức ăn xanh tự nhiên nên không ảnh hưởng. Hàm lượng xơ thô của gạo lức thấp hơn ngô. Thành phần acid amin thiết yếu của gạo lức Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 và ngô có sự chênh lệch nhau, lysine và methionine của gạo lức thấp hơn của ngô, nhưng hàm lượng threonine và tryptophan lại cao hơn của ngô và tổng 16 acid amin của gạo lức cao hơn của ngô gần 4%.
Thành phần các acid amin thiết yếu trong ngô và gạo lức Thành phần Ngô hạt Gạo lức Thành phần Ngô hạt Gạo lức Độ ẩm % 11,8 11,7 Protein thô % 7,93 8,0 Acid amin %: Aspartic acid 0,64 0,53 Isoleucine 0,31 0,28 Threonine 0,26 0,30 Leucine 0,60 1,03 Serine 0,27 0,37 Tryptophan 0,35 0,38 Glutamic acid 1,28 1,55 Phenylalanine 0,40 0,47 Glycine 0,38 0,30 Histidine 0,27 0,28 Alanine 0,49 0,62 Lysine 0,31 0,25 Valine 0,46 0,34 Arginine 0,60 0,35 Methionine 0,24 0,17 Cystine 0,57 0,49 Tổng acid amin 7,46 7,75 (Nguồn: Piao và cs. Hàm lượng acid béo trong ngô và gạo lức Thành phần Ngô hạt Gạo lức Thành phần Ngô hạt Gạo lức Acid béo no Acid béo chưa no C16:0 1,3016 1,8931 - Một nối đôi C18:0 0,0824 0,1139 C16:1 0,5226 0,1169 Tổng acid béo C18:1 0,4087 0,7643 no 1,3840 2,0070 - Nhiều nối đôi C18:2 0,0286 0,0243 C18:3 0,4373 0,7886 Tổng - Tổng acid béo chưa no 0,9599 0,9055 Tỷ lệ acid béo chưa no/ acid béo no của ngô/gạo lức = 0,6936/0,4512 (Nguồn: Piao và cs., 2002 [72]) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 Gạo lức nghèo chất béo hơn ngô (2% so với 4%) và hàm lượng chất béo của gạo lức chỉ bằng 2/3 của ngô, nhưng hàm lượng acid béo no trong gạo lức lại cao hơn hẳn so với ngô (2,007 và 1,384). Tuy nhiên hàm lượng acid béo chưa no lại thấp hơn ngô (0,9055 và 0,9599), các acid béo chưa no của gạo lức chỉ cao hơn của ngô ở nhiều nối đôi C18 : 2, còn lại là một nối đôi C18 : 1 thì thấp hơn nhiều, nhiều nối đôi C18 : 3 thì tương đương nhau. Vì vậy khi động vật sử dụng gạo lức thay cho ngô thì mỡ thân thịt của gia súc, gia cầm vỗ béo cứng hơn và dễ chế biến hơn.
Đây chính là một cơ sở quan trọng để thay thế ngô trong khẩu phần vật nuôi bằng gạo lức. Như vậy, xét về mặt dinh dưỡng, khả năng sử dụng gạo lức thay thế ngô trong chăn nuôi là hoàn toàn khả thi. Cơ sở khoa học của sự sinh trưởng và sức sản xuất thịt của gà Sức sản xuất của gà thịt được thể hiện ở khả năng sinh trưởng và khả năng cho thịt của gà. Khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm a) Khái niệm sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do quá trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật, đồng thời sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất dinh dưỡng chủ yếu là protein, nên tốc độ tích luỹ và sự tổng hợp các chất dinh dưỡng, protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [34]).
b) Ảnh hưởng của đặc điểm di truyền, dòng và giống đến sinh trưởng Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cơ thể gia cầm. Trần Đình Miên và cs (1975) [33] dẫn tài liệu của Swright chia các gen ảnh hưởng đến sinh trưởng của động vật thành ba loại: + Gen ảnh hưởng đến sự phát triển nói chung, đến các chiều, đến tính năng lý học các chiều. + Gen ảnh hưởng theo nhóm. + Gen ảnh hưởng đến một vài tính trạng riêng rẽ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 Theo Nguyễn Ân và cs (1983) [2]; Nguyễn Ân (1984) [3] thì các tính trạng năng suất là các tính trạng số lượng như khối lượng cơ thể, kích thước, chiều đo. Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995) [35] cho biết: Các tính trạng số lượng chi phối bởi nhiều gen. Các gen này hoạt động theo ba phương thức đó là sự cộng gộp, trội, lặn và tương tác giữa các gen. G=A+D+I Trong đó: G là giá trị kiểu gen (genotypic value); A là giá trị cộng gộp (addi- tive value); D là giá trị sai lệch trội (dominance deviation value); I là giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation value) Trong thực tế sản xuất cũng như nghiên cứu, để xác định mức độ ảnh hưởng của di truyền đến sinh trưởng của vật nuôi, người ta sử dụng đại lượng hệ số di truyền (h2).
Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [26] khái quát: Hệ số di truyền là tỷ lệ của phần do gen quy định trong việc tạo nên giá trị kiểu hình. Sự tồn tại của các gen hoặc nhóm gen trong các dòng và giống gia cầm rất khác nhau. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước đã chứng minh rất rõ vấn đề này. Nguyễn Huy Đạt và cs (1996) [15] nghiên cứu so sánh chỉ tiêu năng suất của gà thương phẩm thịt 4 giống gà AA, Lohmann, ISA Vedete và Avian nuôi trong cùng một điều kiện cho thấy, chỉ số sản xuất của gà broiler tại 49 ngày tuổi ở 4 giống gà là khác nhau: Gà broiler AA: 187,97, gà broiler Lohmann: 215,33, gà broiler ISA Vedete: 211,83, gà broiler Avian: 204,95.
Với gà lông màu qua các công trình nghiên cứu của Trần Công Xuân và cs (1997) [56] nghiên cứu hai dòng gà Tam Hoàng 882 và Jang Cun vàng đều cho kết luận rất rõ là các giống khác nhau và thậm chí trong cùng một giống thì các dòng khác nhau có tốc độ sinh trưởng khác nhau. c) Ảnh hưởng của thức ăn, môi trường và điều kiện nuôi dưỡng đến sinh trưởng và phát triển Các tính trạng số lượng, trong đó tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể gà chịu ảnh hưởng rất lớn các tác động của môi trường E (environment). Theo Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1998) [40], quan hệ giữa kiểu hình P (phenotype), kiểu gen G (gentype) và môi trường E (environment) được biểu thị bằng công thức: P = G + E. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [26], Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1998) [40], cho rằng căn cứ vào mức độ, tính chất ảnh hưởng lên cơ thể gia cầm, môi trường E được chia làm hai loại: - Môi trường chung Eg (genral environment) tác động thường xuyên, liên tục đến tất cả các cá thể trong quần thể.
- Môi trường đặc biệt Es (speccial environment) tác động đến một số cá thể riêng biệt nào đó trong quần thể trong một thời gian ngắn. Theo Lê Đình Lương, Phan Cự Nhân (1994) [31], các giống gia cầm đều nhận được từ tổ tiên, bố mẹ chúng một số gen quyết định tính trạng giống hoặc dòng, nhưng những khả năng đó có phát huy được hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào môi trường sống của chúng như thức ăn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và khí hậu. * Ảnh hưởng của thức ăn đến khả năng sinh trưởng Thức ăn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài đến toàn bộ các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của gia cầm. Đặc biệt đối với gia cầm non, do không được bú mẹ như ở động vật có vú nên thức ăn của chúng ở giai đoạn đầu có tác dụng quyết định đến khả năng sinh trưởng và khối lượng cơ thể của chúng sau này.