MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong giai đoạn vừa qua ngành chăn nuôi gia cầm của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của đàn gà là 6,93% và gà thịt là 7,24% (thống kê từ năm 2016-2018 - Cục Chăn nuôi, 2019) [2]. Năm 2018, số lượng đàn gà của Việt Nam là 316,92 triệu con, xếp thứ 13 trên thế giới (FAO, 2020)[34] và có đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế cũng như đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng của xã hội. Chăn nuôi các giống gà bản địa đang chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ sự cạnh tranh rất lớn từ những giống gà cao sản nhập nội, từ biến đổi khí hậu và sự gia tăng dịch bệnnh.
Chính vì vậy, việc khai thác nguồn gen của các giống vật nuôi bản địa để ứng phó với những tác động tiêu cực này và hướng tới phát triển chăn nuôi bền vững đã được nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện do các giống bản địa có khả năng thích nghi tốt hơn với các vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi và khí hậu khắc nghiệt (Chowdhury V. Theo Berthouly-salazar và cs. (2010)[29], các giống gà địa phương thường dễ nuôi, có thể có các gen kháng bệnh cũng như các sản phẩm của chúng được người tiêu dùng ưa chuộng. Ngành chăn nuôi ở khu vực miền núi nước ta vẫn tồn tại quy mô nhỏ với các sản phẩm địa phương đặc trưng, có chất lượng cao và là nguồn thu nhập quan trọng của cộng đồng các dân tộc thiểu số.
Chăn nuôi gia cầm đóng góp cho tổng thu nhập của các hộ nông dân khoảng 50% (Maltsoglou và Rapsomanikis, 2005[38]; Burgos và cs. Chăn nuôi gà bản địa hiện nay đang được các nhà quản lý quan tâm bởi khả năng thích nghi cao, phù hợp với tập quán, văn hóa và phương thức chăn nuôi; hơn nữa, chất lượng thịt gà tốt, quí hiếm nên chúng có giá cao, ít biến động và rất phù hợp 2 với thị hiếu của người tiêu dùng có thu nhập cao. Ngoài ra, chăn nuôi gà bản địa còn có ý nghĩa bảo vệ sự đa dạng sinh học và đa dạng di truyền, giúp cho ngành chăn nuôi của Việt Nam phát triển bền vững. Gà Lông Xước hay còn gọi là gà Hắc Phong là một giống gà mang nguồn gen hiếm, tài nguyên sinh học quý, gắn liền với sinh kế và văn hoá của đồng bào các dân tộc tỉnh Hà Giang, giống gà này tuy có năng suất thấp nhưng chúng có nhiều đặc điểm di truyền tốt như có thể chịu được điều kiện nuôi kham khổ, khả năng chống chịu dịch bệnh tốt, trứng và thịt có chất lượng thơm ngon.
Để có cơ sở khuyến cáo và định hướng phát triển chăn nuôi gà bản địa nói chung và gà lông xước nói riêng, việc đánh giá các đặc điểm ngoại hình, năng sản xuất và vai trò của giống gà lông xước quý hiếm này đối với người dân miền núi Hà Giang là rất cần thiết. Nghiên cứu nhằm đánh giá một số đặc tính sinh học, khả năng sản xuất của giống gà Lông Xước qua các thế hệ từ đàn hạt nhân. Do đó chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Nghiên cứu đánh giá đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng của gà Lông Xước nuôi tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Thành công của đề tài là cơ sở để nhân rộng sản xuất tại địa bàn, đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế trong chăn nuôi.
Hướng tới việc sản xuất hàng hóa và xây dựng là thương hiệu sản phẩm nông sản, góp phần tích cực phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế trên địa bàn. Mục tiêu tổng thể Xác định đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng của gà Lông Xước nuôi tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên 1. Mục tiêu cụ thể - Xác định được một số đặc điểm ngoại hình đặc trưng của gà Lông Xước. 3 - Xác định được một số chỉ tiêu sinh trưởng của đàn sản xuất gà Lông Xước, từ đó giúp cho người chăn nuôi bảo tồn giống và phát triển quy mô chăn nuôi phù hợp.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng của gà Lông Xước. Ý nghĩa thực tiễn Các số liệu thu được phục vụ, khai thác, phát triển nguồn gen giống gà, đồng thời làm cơ sở cho định hướng công tác giống sau này. Kết quả nghiên cứu làm rõ đặc điểm sinh học, sức sản xuất của gà Lông Xước nuôi tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; từ đó làm cơ sở cho phát triển quy mô giống gà này cho phù hợp với điều kiện địa phương và miền núi.
4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Cơ sở nghiên cứu các đặc điểm ngoại hình và kích thước các chiều đo của gia cầm * Ngoại hình Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm là những biểu hiện đặc trưng cho phẩm giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi. Ngoại hình là một tính trạng chất lượng của gia cầm.
Đó là những đặc điểm bên ngoài của gia cầm có thể quan sát được như: màu lông, da, hình dáng, mào tích, …. Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi. Tính trạng ngoại hình - Sự phát triển của bộ lông: Lông là dẫn xuất của da, thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại. Gà con mới nở có bộ lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ dần dần được thay thế bằng bộ lông cố định.
- Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn, có liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm. (1978) [1]), những gia cầm lớn nhanh thì có tốc độ mọc lông nhanh. (1978) [41], những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với khả năng tăng trọng cao. và Cathy (1970) [36] cho biết, gà mái mọc lông đều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hormone có tác dụng ngược với gen liên kết giới tính quy định tốc độ mọc lông.
- Màu lông là do một số gen quy định phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào tương của tế bào. Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [14] cho biết, màu sắc lông, da là mã hiệu của giống, đó là những tín hiệu để nhận dạng con giống. 5 Màu sắc lông da là những chỉ tiêu trong chọn lọc gia cầm. Thông thường, màu sắc đồng nhất là giống thuần, trên cơ sở đồng nhất đó mà loang là không thuần, đã bị pha tạp.
Màu sắc do một số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng để phân tích di truyền, dự đoán màu lông của đời sau trong chọn lọc. Các giống gia cầm khác nhau có bộ lông khác nhau, sự khác nhau về màu sắc lông là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin (Melanogene) trong các tế bào lông, nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom (Carotinoit) thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ. Nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng. - Đầu: Cấu tạo của xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu gia cầm.
Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận về sự phát triển của mô liên kết và mô đỡ. Gà trống có ngoại hình đầu giống gà mái sẽ có tính sinh dục kém, gà mái có ngoại hình đầu của gà trống sẽ không cho năng suất cao, trứng thường không có phôi. - Mỏ và chân: + Mỏ là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (Stratumcorneum). Mỏ phải ngắn và chắc chắn.
Gà có mỏ dài và mảnh thì khả năng sản xuất không cao. Màu sắc của mỏ có nhiều loại: vàng, đỏ, đen, hồng. Màu của mỏ thường phù hợp với màu của chân. Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng, tuy nhiên ở gà mái thì màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng.
+ Chân: Những gà giống tốt phải có chân chắc chắn nhưng không được thô. Chân gia cầm có 4 ngón, rất ít 5 ngón (Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 1998) [16]. Chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Gà có chân hình chữ bát, các ngón chân cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm giống.
Chân gà thường có vuốt và cựa, cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài. Gà có chân cao thường cho thịt thấp và phát dục chậm. 6 - Mào và tích là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp nên có thể phân biệt trống mái. Mào rất đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống gà.
Mào là dẫn xuất của da. Khi có mặt gen Ab gà sẽ có dạng mào hoa hồng, khi có mặt gen aB gà sẽ có dạng mào nụ và khi có mặt gen ab thì gà sẽ có dạng mào cờ. Dựa vào hình dạng, người ta phân ra các loại mào: mào đơn (mào cờ), mào hạt đậu, mào hoa hồng, mào nụ (mào sít). Ở gà trống sự phát triển mào và tích phản ánh sự thành thục sinh dục sớm hay muộn, còn ở gà mái nếu mào, tích phát triển không rõ ràng là dấu hiệu có ảnh hưởng xấu tới khả năng sinh sản.
* Hình dáng và kích thước các chiều đo của cơ thể: Tùy mục đích sử dụng, các giống gia cầm được chia làm 3 loại thể hình: hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng. Gà hướng thịt thường có hình dáng cân đối, ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay chữ nhật. Gà hướng trứng lại có kết cấu thanh gọn, tiết diện hình tam giác. Theo tài liệu của Champer J.
(1990) [55], kích thước các chiều đo có tương quan với sức sản xuất của gà broiler. Tác giả cũng cho biết độ lớn góc ngực, dài chân, dài đùi và đường kính ống chân có tương quan với khối lượng cơ thể. và cs (1978) [41] cho biết, tương quan giữa độ lớn góc ngực và khối lượng cơ thể từ 0,4 - 0,68, trung bình là 0,42. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng 2.