chương 1 cũng trình bày đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, giới thiệu phương pháp nghiên cứu trong luận án. Phần đóng góp của luận án cũng được trình bày trong chương này và cuối cùng là phần kết cấu của luận án 1.1 Bối cảnh nghiên cứu 1.1 Bối cảnh lý thuyết Với sự phát triển khoa học và công nghệ trong thời gian vừa qua, nền kinh tế thế giới đã có sự liên kết chặt chẽ với nhau và cũng đồng thời tạo sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Bởi vì theo Raymond (1989), những tiến bộ trong công nghệ, thông tin liên lạc và giao thông vận tải đã thúc đẩy quá trình thương mại toàn cầu tăng nhanh hơn và mạnh hơn do thị trường được hội tụ. Khi toàn cầu hóa kinh tế trở nên rõ rệt hơn, năng lực cạnh tranh của tổ chức trong thị trường toàn cầu được quyết định bởi yếu tố quản lý nguồn nhân lực của chính các tổ chức đó (Hanif và Yunfei, 2013).
Khi đó, để đạt được lợi thế cạnh tranh, đặc biệt trong nền kinh tế toàn cầu, nhiều tổ chức đề cao khả năng chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm và năng lực của các tài năng làm việc cho họ. Do vậy, con người được xem là thứ tài sản quý giá và là yếu tố quan trọng trong sự phát triển và thành công của tổ chức (Becker và Huselid, 2006). Một ngân hàng có được đội ngũ nhân viên có chuyên môn giỏi, trình độ cao, trung thành với tổ chức thì tổ chức đó có được lợi thế rất lớn trên thị trường. Và như vậy, trong môi trường kinh tế không chắc chắn và thường xuyên biến động này, việc lưu giữ nhân tài chính là một chiến lược quan trọng cho các nhà quản lý nguồn nhân lực cũng như các lãnh đạo của các ngân hàng thương mại.
Vậy làm sao để có thể duy trì nhân tài trong môi trường như vậy? Đó cũng chính là câu hỏi quan trọng mà các ngân hàng thương mại (NHTM) cần phải trả lời một cách thấu đáo. 2 Hiện nay, rất nhiều các NHTM đang có nhu cầu cao đối với nhân viên có năng lực để tạo ra năng suất và hiệu quả lao động. Do đó các NHTM không ngừng cạnh tranh để tuyển mộ nhân tài cho tổ chức của mình. Thật vậy, đã có một sự thay đổi khái niệm từ “nguồn nhân lực” (Human resource) sang “vốn nhân lực” (Human capital).
“Vốn nhân lực” bao gồm kỹ năng, kiến thức và khả năng của người làm việc trong một tổ chức. Ngày nay, các tổ chức đang phải đương đầu với những thách thức lớn trong việc duy trì nhân tài trong tổ chức của họ nhằm nâng cao vị thế và năng lực cạnh tranh trong thị trường toàn cầu (Tarique và Schuler, 2010; Schuler và cộng sự, 2011; Scullion và cộng sự, 2011). Định hướng quan trọng trong “cuộc chiến giành nhân tài” này là giảm tỷ lệ người lao động nghỉ việc và tăng cường duy trì nhân tài. Mục đích chính trong việc duy trì nhân tài là để ngăn ngừa nhân viên có năng lực tốt rời khỏi tổ chức vì điều này có thể có ảnh hưởng xấu đến năng suất và hoạt động chung của tổ chức.
Bên cạnh đó các ngân hàng làm tốt nhất việc quản lý nhân tài của mình có kết quả hoạt động tốt hơn những tổ chức khác, theo kết quả khảo sát của Price waterhouse Coopers (PwC) năm 2014 đối với những tổ chức thực hiện chiến lược trọng dụng nhân tài, hiệu quả triển khai các chiến lược của họ tăng 77%, tăng doanh số 75% và tăng hiệu quả tài chính 85% (Hesse, 2015). Duy trì nhân tài nhằm hỗ trợ cho các tổ chức có được đúng người với kỹ năng phù hợp tại đúng thời điểm để tham gia vào chiến lược kinh doanh nhằm đảm bảo sự thành công và tối ưu hoạt động của tổ chức (Mohammed, 2015). Bên cạnh đó, công tác quản lý nhân tài liên quan đến việc đưa ra các cơ chế đảm bảo quá trình thu hút, công tác duy trì và phát triển nguồn nhân tài. Điều này đang ngày càng trở nên quan trọng bởi vì nhân tài không nhiều và sự thiếu hụt này dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức.
Mặc dù quản lý nhân tài là một lĩnh vực tương đối mới đối với cả khu vực công và tư nhân, các tổ chức cũng đã có sự ưu tiên nhất định trong công tác này (Kagwiria, 2013), bởi vì công tác này có liên quan sâu sắc đến sự thành công của việc thu hút, duy trì và công tác phát triển nghề nghiệp của nhân viên. Các NHTM đã và đang phải đương đầu với những thách thức to lớn trong việc thực hiện chiến lược quản lý nhân tài hiệu quả bởi vì nhân tài thường khan hiếm. Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, tài năng, kỹ năng và kiến thức là rất quan trọng để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tổ chức. Do đó, mọi NHTM đều đánh giá cao sự 3 quan trọng trong việc thu hút và duy trì các nhân tài phục vụ cho họ.
Mohammed (2015) cho rằng duy trì nhân tài là những ưu tiên của nhiều tổ chức và là nền tảng tạo sự khác biệt quan trọng trong việc quản lý nguồn nhân lực hiện đại. Còn Lathitha (2012) nhận định duy trì nhân tài cũng là một trong những vấn đề quản lý quan trọng và là một trong những thách thức lớn nhất về nhân sự mà các tổ chức phải đối mặt trong nền kinh tế hiện đại bởi vì tình trạng thiếu nhân viên lành nghề trong khi nhu cầu nhân lực đáp ứng sự tăng trưởng kinh tế ngày càng cao và sự “nhảy việc” ngày càng phổ biến. Việc xác định và phát triển nhân viên có tiềm năng cao trong nội bộ được xem là một trong những chức năng quan trọng của quản trị nguồn nhân lực hiện đại. Theo Scullion và Collings (2010) cho rằng quản lý nhân tài là hành động của các tổ chức với mục đích thu hút, lựa chọn, phát triển và duy trì những nhân viên giỏi nhất trong vai trò chiến lược nhất.
Nhằm mục đích phát triển đúng người vào đúng công việc và đúng thời điểm, đảm bảo môi trường thích hợp cho các cá nhân để làm việc tốt nhất trong khả năng của họ và có sự gắn kết lâu dài với tổ chức. Theo Viện Chartered Institute of Professional Development (CIPD, 2015), nhân tài bao gồm những cá nhân có thể tạo ra sự khác biệt tích cực đáng kể đến kết quả hoạt động của tổ chức thông qua sự đóng góp ngay tức thời của mình hoặc có thể thể hiện những tiềm năng vượt trội nhất của mình trong lâu dài. Vì vậy, tiềm năng phát triển của các tổ chức trên toàn thế giới phụ thuộc nhiều vào khả năng của họ trong việc bố trí đúng người, đúng nơi vào đúng thời điểm. Nhưng tiêu chí nào để xác định nhân tài nhất là trong lĩnh vực ngân hàng để bố trí họ vào đúng việc và đúng khả năng của họ.
Ngày nay, các NHTM đã ghi nhận sự gia tăng giá trị đáng kể do sự đóng góp về mặt tài nguyên con người thông qua những nhân tài làm việc trong các tổ chức của họ. Ngoài ra, các tổ chức cũng đã phát hiện ra rằng, nhân tài không chỉ ngày càng trở nên khan hiếm và họ gặp khó khăn trong việc tuyển dụng được nhân tài hàng đầu, mà họ đang gặp nguy cơ mất nhân tài của họ vào các đối thủ cạnh tranh bất cứ lúc nào. Đối với nhiều NHTM, khả năng để giữ cho các nhân viên nòng cốt và có tài là rất quan trọng cho sự tồn tại của ngân hàng trong tương lai. Trong vài năm qua, nhiều tổ chức đã không ngừng quan tâm đến vấn đề hiệu quả quản lý nhân tài, theo kết quả khảo sát của CIPD (2015), ít nhất 75% các CEO nhận ra rằng quản 4 lý nhân tài là ưu tiên hàng đầu trong các chương trình nghị sự của họ.
Do đó, quản lý nhân tài hiện nay được xem như là một công cụ để tăng cường năng lực của tổ chức thông qua sự phát triển cá nhân, nâng cao hiệu suất, và phát triển nghề nghiệp (Iles và cộng sự , 2010). Tuy nhiên, mỗi ngân hàng có cách thức thu hút và duy trì nhân tài khác nhau, hiệu quả của các hoạt động này tại mỗi tổ chức cũng khác nhau. Trên thế giới, nhiều nhà nghiên cứu đã xác định các nhân tố tác động đến tâm lý và hành vi của người lao động để các nhà quản lý có thể xây dựng các chính sách phù hợp trong việc đáp ứng và thỏa mãn người lao động. Ali và Ahmed (2009) nghiên cứu sự tác động của khen thưởng và ghi nhận đến động lực làm việc và hài lòng công việc của nhân viên đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa hài lòng công việc và động lực làm việc.
Tuy nhiên nghiên cứu này chưa toàn diện về sự đa dạng của các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hài lòng công việc và động lực làm việc. Bên cạnh đó nghiên cứu này cũng chưa xem xét có sự khác biệt giữa các biến nhân khẩu học đến các nhân tố ảnh hưởng. Vì vậy mục đích của nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc tăng khen thưởng và sự ghi nhận trong công việc, chưa đi đến mục đích cuối cùng là duy trì những người mình cần cho tổ chức. Rajyalakshmi và Allada (2012) cho rằng sự ghi nhận của cấp trên và sự hỗ trợ giúp đỡ từ đồng nghiệp có ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc và tăng sự duy trì nhân viên ngân hàng.
Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tăng sự hỗ trợ dịch vụ nội bộ sẽ tăng sự hài lòng trong công việc và nâng cao lòng trung thành của họ. Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ nghiên cứu về việc duy trì nhân viên ngân hàng giới hạn trong khu vực ngân hàng công, chưa nghiên cứu rộng rãi cho nhiều đối tượng NHTM, đây cũng là điều hạn chế mà nghiên cứu này cần mở ra các hướng nghiên cứu mới trong tương lai. Ramlall (2004) đã nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên ảnh hưởng đến việc duy trì nhân viên trong tổ chức. Nghiên cứu đã giải thích được sự quan trọng trong việc duy trì những nhân viên quan trọng.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho rằng cam kết của nhân viên là điều quan trọng để duy trì nhân viên trong tổ chức. Tuy nhiên nghiên cứu này chưa xem xét được mối liên hệ của các nhân tố trong việc duy trì nhân viên. Johnson và Hsu (2006), Nguyễn Thị Mai Trang (2010) thì quan tâm đến các nhân tố tác động đến sự gắn bó và lòng trung thành của người 5 lao động đối với tổ chức, v.