Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trong chƣơng này sẽ trình bày tình hình nghiên cứu về hiện tƣợng nắng nóng trên thế giới và ở Việt Nam, vấn đề hiệu chỉnh sai số hệ thống của mô hình và mức độ chƣa chắc chắn trong kết quả dự tính. Chương 2: Nguồn số liệu và phương pháp nghiên cứu Trong chƣơng này sẽ trình bày sơ lƣợc về các mô hình đƣợc sử dụng, nguồn số liệu đƣợc sử dụng để phục vụ nghiên cứu và phƣơng pháp hiệu chỉnh sai số hệ thống sản phẩm các mô hình, phƣơng pháp xác định mức độ chƣa chắc chắn kết quả của mô hình, phƣơng pháp đánh giá Chương 3: Kết quả và thảo luận Chƣơng này trình bày toàn bộ kết quả xác định SNNN thời kỳ cơ sở kèm theo đánh giá chất lƣợng phƣơng pháp hiệu chỉnh sai số; kết quả dự tính biến đổi SNNN thời kỳ tƣơng lai của các phƣơng án mô hình và trên cơ sơ tổ hợp của các phƣơng án mô hình và những nhận định về mức độ chƣa chắc chắn trong kết quả dự tính. Kết luận và khuyến nghị trình bày tóm tắt các kết quả chủ yếu của luận văn, những điểm mới đã đạt đƣợc; nêu những tồn tại và kiến nghị việc sử dụng kết quả luận văn cũng nhƣ các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về nắng nóng trên thế giới và Việt Nam Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc nghiên cứu về các hiện tƣợng nắng nóng dựa vào nhiệt độ cực trị hoặc các chỉ số khí hậu trên mỗi vùng. Trên thế giới Theo báo cáo lần thứ tƣ của IPCC (2007) [31], nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên 0,74±0,18oC trong vòng 100 năm qua (từ 1906-2005) với tốc độ tăng nhiệt độ trong 50 năm cuối là +0,13±0,03oC/thập kỷ, gần bằng 2 lần tốc độ tăng trung bình trong thời kỳ 1906-2005. Cùng với sự tăng lên của nhiệt độ, theo IPCC (2007) hiện tƣợng thời tiết, khí hậu cực đoan liên quan đến nhiệt độ nhƣ số đợt nắng nóng cũng có xu hƣớng tăng lên từ những năm 1950 [31].
Theo báo cáo mới nhất của IPCC (2013), với kịch bản phát thải trung bình, nhiệt độ trái đất rất có khả năng tăng lên 1oC giai đoạn đầu thế kỉ 21 (2016-2035); tăng đến 1,5oC giai đoạn giữa thế kỉ 21 (2046-2065) và có khả năng tăng hơn 2oC vào cuối thế kỷ (2081-2100). Theo đó, báo cáo cũng nhận định rằng các đợt nắng nóng xảy ra nhiều hơn, thời gian éo dài hơn, đặc biệt là vào cuối thế kỷ 21 [32]. Bonsal và nnk (2001) sử dụng số liệu nhiệt độ cực đại, cực tiểu và nhiệt độ trung bình ngày của 210 trạm trên toàn Canada để phân tích xu thế nhiệt độ cực trị hàng ngày trong thế kỉ XX cho 2 giai đoạn 1900-1998 (cho miền Nam Canada) và giai đoạn 1958-1998 (cho toàn Canada). Cực trị thấp và cực trị cực cao về nhiệt độ đƣợc xác định theo phân vị 5th va 95th của nhiệt độ cực tiểu và cực đại ngày.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, từ năm 1990 nhiệt độ trung bình hàng năm trên miền Nam Canada tăng trung bình 0,98oC với sự ấm lên lớn nhất trong mùa đông và đầu mùa xuân. Nhiệt độ cực tiểu tăng mạnh hơn nhiệt độ cực đại, theo đó làm giảm biên độ nhiệt ngày. Phía Nam Canada, những ngày có nhiệt độ cực đoan thấp giảm đi trong mùa đông, mùa xuân, tăng số ngày có nhiệt độ cực trị cao trong mùa đông và mùa xuân. Sự thay đổi nhiệt độ cực cực trị cao trong mùa hè không rõ rệt.
Thời kì 1950-1998 có sự khác biệt lớn giữa các vùng nhất là mùa đông và mùa xuân. Tăng giá trị nhiệt độ cực trị đối với nhiệt độ cực tiểu và cực đại ngày ở phía Tây Canada và giảm đi ở phía Đông, biến đổi mạnh mẽ xảy ra trong mùa xuân với sự tăng giá trị nhiệt độ ở phân vị 5th lên 5oC/49 năm 5 z quan trắc ở phía Tây và giảm tƣơng ứng ở phía Đông. Mùa hè có sự khác biệt không gian ít hơn với nhiệt độ cực tiểu tăng hầu hết trên toàn Canada và cũng nhƣ toàn giai đoạn 1990-1998, sự biến đổi cực trị về nhiệt độ cực đại ngày không rõ rệt [19]. Sử dụng bộ số liệu nhiệt độ cực đại ngày từ 300 trạm trên lãnh thổ Trung Quốc giai đoạn 1958-2008, Wei và Chen đã nghiên cứu xu thế biến đổi của nhiệt độ cực trị cao trên phạm vi toàn Trung Quốc trong mùa hè (từ tháng 6 đến tháng 8).
Tác giả sử dụng ngƣỡng của ngày có nhiệt độ cực trị cao là lớn hơn 35oC. Kết quả cho thấy có xu thế giảm đáng ể ở khu vực giữa Trung Quốc và xu thế tăng lên ở miền Bắc và miền Nam Trung Quốc. Sự giảm số ngày có nhiệt độ cực trị cao ở miền Trung Trung Quốc xảy ra chủ yếu trong giai đoạn trƣớc những năm 1980 và sự gia tăng đáng ể số ngày có nhiệt độ cực trị cao tại hầu hết các trạm sau những năm 1980. Tác giả còn cho rằng có khả năng tăng vọt số ngày có nhiệt độ cực trị cao tại hầu hết các trạm trên toàn Trung Quốc từ giữa những năm 1990, đặc biệt là ở miền Nam, miền Đông, miền Bắc và Tây Bắc Trung Quốc [51].
Để dự tính biến đổi của các hiện tƣợng cực trị thời tiết vùng đông Hoa Kỳ cho cuối thế kỉ 21 (2057-2099), Gao và nnk [26] đã sử dụng mô hình khí hậu phân giải cao WRF với kịch bản RCP8. Kết quả cho thấy, đến cuối những năm 2050s, các đợt nắng nóng trở nên nghiêm trọng hơn ở hầu hết các vùng phía Đông Hoa Kỳ, riêng vùng Đông bắc Mỹ nắng nóng tăng mạnh về cƣờng độ, tăng hoảng 3,5oC. Một nghiên cứu khác của Maule và nnk [38] sử dụng kết hợp các mô hình toàn cầu và khu vực khác nhau NorESM-WRF (BCCR) và EC-EARTH-HIRHAM5 (DMI), mô hình toàn cầu đƣợc tăng độ phân giải đến 8 km dự tính nắng nóng ở Bắc Châu Âu với 2 kịch bản RCP4. Kết quả tính toán cho giai đoạn 2021-2050 và 2071-2100 so với giai đoạn 1981-2010 cho thấy tỉ lệ nắng nóng tăng ở khu vực này và thời gian mỗi đợt nắng nóng sẽ éo dài hơn trong tƣơng lai.
Tƣơng tự nhƣ vậy, Sun [46] bằng phƣơng pháp downscaling từ các mô hình toàn cầu (CMIP5) dự tính biến đổi số ngày nắng nóng vùng Los Angele cho giữa thế kỷ 21 (2041-2060) và cuối thế kỷ 21 (2081- 2100). Với kịch bản RCP8.5, kết quả cho thấy đến cuối thế kỷ 21, vùng sâu lục địa tăng lên tới 60-90 ngày nắng nóng mỗi năm, hu vực miền núi đêm lạnh khó xảy ra. Trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa các đợt nắng nóng và tỉ lệ tử vong do bệnh nhồi máu cơ tim ở Đức, Stefan Zacharias và nnk [45] sử dụng 19 mô hình khu 6 z vực, độ phân giải 0,25° × 0,25° với kịch bản trung bình A1B đánh giá biến đổi nắng nóng cho ba thời kì: hiện tại (1971–2000), tƣơng lai gần (2021–2050) và tƣơng lai xa (2069–2098). Trong nghiên cứu này, đợt nắng nóng là khoảng thời gian có ít nhất 3 ngày liên tiếp với nhiệt độ không khí trung bình lớn hơn phân vị thứ 95 của thời kỳ 1971-2000.
Kết quả tổ hợp trung bình từ các mô hình cho thấy, trong tƣơng lai các đợt nắng nóng ở Đức sẽ tăng cả về tần suất, độ dài và cƣờng độ. Đến cuối thế kỉ 21, số đợt nắng nóng có thể gấp 3 lần hiện nay; tính trung bình hàng năm số đợt nắng nóng tăng 1.6 lần thời kỳ 2021-2050 và tăng 3.2 lần thời kỳ 2069-2098, độ dài trung bình mỗi đợt nắng nóng tăng 25% và nhiệt độ trung bình mỗi đợt nắng nóng tăng 1oC. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu hác cũng cho dự tính số đợt nắng nóng tăng lên, cƣờng độ mạnh hơn và độ dài mỗi đợt tăng lên ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới nhƣ Bắc Mỹ, Châu Âu và Úc. Trong một nghiên cứu khác của Lau và Nath sử dụng 2 mô hình hoàn lƣu chung với độ phân giải ngang 50 và 200km, kết quả cho thấy có sự gia tăng đáng ể thời gian và tần số đợt nắng nóng và số ngày nắng nóng trong năm trong suốt thế kỉ 21 ở Bắc Mỹ [41].
Theo báo cáo SREX của IPCC, ghi nhận đƣợc sự giảm số ngày và số đêm lạnh và sự gia tăng số ngày và số đêm ấm tại các lục địa trên quy mô toàn cầu. Hầu hết các khu vực có đủ dữ liệu cũng ghi nhận đƣợc độ dài các đợt nắng nóng đã tăng lên từ giữa thế kỷ 20. Những tác động của con ngƣời đã đƣa đến xu thế tăng lên của các cực trị nhiệt độ tối cao và tối thấp. Các mô hình cũng cho thấy xu thế này trong các cực trị nhiệt độ vào cuối thế kỷ 21.
Xu hƣớng tăng lên về tần suất cũng nhƣ biên độ và giảm số ngày và đêm lạnh xảy ra trong suốt thế kỷ 21 trên quy mô toàn cầu; độ dài, tần suất, cƣờng độ các đợt nắng nóng tăng lên ở hầu hết các lục địa. Theo các kịch bản phát thải A2 và A1B của SRES, ,vào giữa thế kỷ 21, nhiệt độ ngày cao nhất hàng năm tăng từ 1- 3oC và tăng từ 2-5oC vào cuối thế kỷ so với nhiệt độ ngày cao nhất hàng năm của chuỗi số liệu 20 năm cuối thế kỷ 20. Giá trị tăng này tùy thuộc vào vùng và kịch bản phát thải [33]. Ở Việt Nam Cũng nhƣ trên thế giới, cho đến nay ở Việt nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về xu thế nắng nóng trong quá hứ và dự tính nắng nóng thời ỳ tƣơng lai.
7 z Phân tích sự biến đổi nhiệt độ cực trị ở Việt Nam giai đoạn 1961-2007 trên tập số liệu nhiệt độ cực đại và cực tiểu ngày của 58 trạm quan trắc hí tƣợng trên 7 vùng khí hậu, Hồ Thị Minh Hà và Phan Văn Tân [4] cho thấy, nhiệt độ cực tiểu tháng của Việt Nam tăng lên trung bình gần 0,9oC/thập kỷ, nhanh hơn nhiều so với tốc độ ấm lên của nhiệt độ trung bình toàn cầu; nhiệt độ cực đại tháng lại giảm nhẹ khoảng 0,1oC/thập kỷ. Mức độ và xu thế biến đổi của nhiệt độ cực tiểu và nhiệt độ cực đại hông đồng nhất trên toàn Việt Nam. Nhiệt độ cực đại có xu hƣớng giảm nhẹ ở những khu vực có nhiệt độ cực đại cao và tăng ở những khu vực có nhiệt độ cực đại thấp hơn; nhiệt độ cực tiểu tăng trên những khu vực có giá trị cực tiểu thấp và tăng nhẹ hoặc giảm trên những khu vực có giá trị cực tiểu cao hơn và tăng trung bình từ 1-2oC trên cả nƣớc.