Đặt vấn đề và giải quyết bài toán Viễn thông là một nhân tố quan trọng trong công cuộc phát triển công nghệ số và hội nhập kinh tế. Trong đó Dịch vụ viễn thông đã phát triển mạnh trong thập kỷ qua và thị trƣờng Viễn thông truyền thống những năm gần đây đã trở nên bão hòa. Năm 2019 đạt 125,8 triệu thuê bao di động mặt đất, lớn hơn cả dân số hiện tại là hơn 96 triệu ngƣời, trong đó 3 công ty lớn VNPT, Viettel, Mobifone chiếm hơn 97% thị phần [2]. Để phát triển và tồn tại, các công ty viễn thông không chỉ tìm cách phát triển thuê bao mới, giữ chân thuê bao cũ mà còn cần phát triển mạnh mẽ các dịch vụ giá trị gia tăng, đánh trúng vào từng đối tƣợng cụ thể nhằm tăng trải nghiệm khách hàng và chất lƣợng dịch vụ.
Do đó, nhu cầu định danh khách hàng là một mối quan tâm lớn của các công ty viễn thông. Việc xác định rõ chân dung khách hàng sẽ giúp các công ty viễn thông hiểu rõ nhu cầu, mong muốn của từng đối tƣợng cụ thể. Từ đó, họ có thể phục vụ để nâng cao trải nghiệm của khách hàng, cải thiện hiệu quả của các chiến lƣợc tiếp thị của họ và phát triển các nguồn doanh thu mới. Với các thông tin về sở thích, hành vi và xu hƣớng của khách hàng, các công ty có thể tăng lợi nhuận và doanh thu trên toàn bộ chuỗi giá trị viễn thông - từ phát triển sản phẩm và vận hành mạng lƣới, đến bán hàng, tiếp thị và dịch vụ khách hàng.
Ngoài ra, việc định danh khách hàng còn giúp các công Luan van 3 ty viễn thông phát triển mạnh mẽ mảng quảng cáo, khi họ đã có sẵn hạ tầng và mạng lƣới quảng bá, và mức độ tiếp cận gần nhƣ đạt tới mức tối đa vì hầu nhƣ ai cũng có ít nhất 1 thiết bị di động. Vậy các công ty viễn thông, họ có trong tay một khối lƣợng dữ liệu vô cùng lớn thu thập đƣợc từ các hành vi sử dụng dịch vụ từ khách hàng của họ, họ lại càng khao khát khai phá thông tin một cách mãnh liệt hơn bao giờ hết. Vì thế, các nhà mạng không chỉ phát triển riêng các ứng dụng nội bộ, mà đồng thời còn thuê các đối tác bên ngoài tới để có thể khai thác một cách tối đa và hiệu quả nhất. Trong dự án này tôi cũng đƣợc cung cấp các dữ liệu liên quan tới các hành vi sử dụng dịch vụ viễn thông của các thuê bao di động, từ đó tôi có thể xây dựng các mô hình dự đoán chân dung khách hàng một cách toàn diện và chính xác.
Trong bài nghiên cứu này, tôi sẽ tập trung vào một phần nhỏ trong bức tranh tổng quát về chân dung khách hàng là nghề nghiệp của thuê bao di động, cụ thể là đánh giá xem thuê bao đó có phải là sinh viên hay không. Tôi chuyển về bài toán phân loại nhị phân để đơn giản hóa quá trình lựa chọn và đánh giá mô hình. Dữ liệu đƣợc sử dụng bao gồm tất cả các CDR của thuê bao trong suốt 6 tháng trƣớc thời điểm lấy mẫu. Các dữ liệu đã đƣợc mã hóa số thuê bao để đảm bảo tính bảo mật về an toàn thông tin cho ngƣời dùng, phù hợp với các chính sách và yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân từ Bộ TT&TT.
Khối lƣợng của tập dữ liệu này là hơn 50TB, đƣợc lƣu trữ trên hệ thống tệp phân tán Hadoop (HDFS). Tôi sẽ sử dụng tập dữ liệu này để tổng hợp và trích xuất các đặc trƣng cho từng khách hàng, sau đó sử dụng các mô hình học máy để dự đoán xem một thuê bao có là sinh viên hay không. Mở rộng ra, do các nhà mạng khác cũng có cùng bộ dữ liệu tƣơng tự, nên tùy thuộc vào tập mẫu đƣợc lựa chọn, nghiên cứu này sẽ giúp cho các nhà phát triển có cách nhìn tổng quát về phƣơng hƣớng xử lý các loại dữ liệu, cách thức tổng hợp và trích chọn đặc trƣng phù hợp cũng nhƣ đƣa ra thuật toán hiệu quả nhất để dự đoán về chân dung của một thuê bao di động. Các đặc điểm về dữ liệu nhà mạng Luan van 4 1.1 Giới thiệu về dữ liệu của nhà mạng Là một trong 3 công ty viễn thông lớn nhất Việt Nam [2], đối tác của tôi có rất nhiều loại dữ liệu bao gồm cả dữ liệu sử dụng dịch vụ của ngƣời dùng lẫn dữ liệu hoạt động của hệ thống.
Các loại này đƣợc phân loại nhƣ sau : - Dữ liệu khách hàng: Nó chứa tất cả các thông tin liên quan đến dịch vụ và hợp đồng của khách hàng. Bao gồm thông tin về các gói cƣớc đã từng đăng kí, các khuyến mại và ƣu đãi đã đƣợc nhận. Hơn nữa nó còn chứa các thông tin đƣợc tạo ra từ hệ thống CRM (thông tin nhân khẩu học của khách hàng nhƣ địa chỉ, ngày sinh, giới tính cũng nhƣ các giấy tờ pháp lý liên quan nhƣ hình ảnh, chứng minh thƣ, căn cƣớc công dân …) - Dữ liệu về vị trí: Thông tin về vị trí xảy ra các sự kiện của ngƣời dùng cũng đƣợc lƣu lại dƣới dạng mã vị trí. Từ mã vị trí này có thể ánh xạ ra kinh độ, vĩ độ cũng nhƣ địa chỉ cụ thể của ngƣời dùng tới các mức xã phƣờng.
- Dữ liệu về khiếu nại, chăm sóc khách hàng: Bao gồm các thông tin phản ánh dịch vụ từ khách hàng, cũng nhƣ các khiếu nại liên quan tới cƣớc, gói dịch vụ mà khách sở hữu, quan tâm. - Dữ liệu nhật ký mạng: Chứa các thông tin về tình trạng hoạt động của hệ thống, các bản ghi lƣu lại lịch sử hoạt động của ứng dụng, log chi tiết về hệ thống, cũng nhƣ lịch sử thay đổi của các phiên bản nâng cấp hệ thống. - Dữ liệu chi tiết cuộc gọi: Chứa các thông tin chi tiết về cuộc gọi, sms, mms, truy cập internet, vasp. Dữ liệu này đƣợc tạo ra dƣới dạng văn bản - Thông tin thiết bị di động : Nó chứa thông tin về thƣơng hiệu, kiểu máy, loại điện thoại di động, dùng 1 sim hay 2 sim, hỗ trợ 4g hay không.
Các dữ liệu này có kích thƣớc rất lớn và chứa rất nhiều thông tin về nó. Tuy nhiên, do các vấn đề bảo mật và an toàn dữ liệu cho ngƣời dùng, cũng nhƣ các vấn đề về an toàn thông tin cho chính doanh nghiệp viễn thông, tôi chỉ có thể tiếp cận một số loại dữ liệu nhƣ dữ liệu về vị trí, dữ liệu về thiết bị di động và dữ liệu về chi tiết cuộc Luan van 5 gọi. Nhƣng đó vẫn chứa một khối lƣợng rất lớn thông tin về các hành vi và thói quen sử dụng dịch vụ của khách hàng. Tôi đã phải dành rất nhiều thời gian để tìm hiểu và phân tích về cách thức lƣu trữ, tần suất xuất dữ liệu cũng nhƣ ý nghĩa của từng loại dữ liệu.
Đó cũng là một thách thức lớn vì lƣợng dữ liệu này đƣợc thu thập từ nhiều nguồn khác nhau và thiếu các tài liệu mô tả liên quan.2 Khối lượng dữ liệu lớn và phức tạp Vì tôi không biết thông tin nào có thể hữu ích cho quá trình xây dựng mô hình, vì thế tôi phải xử lý tất cả các dữ liệu phản ánh hành vi và hoạt động của tất cả các khách hàng. Các bản ghi về cuộc gọi thoại, SMS, MMS, Internet, VAS, giao dịch cƣớc. đều phải đƣợc tìm hiểu và xử lý. Các trƣờng thông tin phải đƣợc hiểu chính xác và cặn kẽ.
Điều này thực sự là một khó khăn và mất thời gian, vì có những bảng chứa tới vài trăm cột, và tài liệu mô tả thì không đầy đủ. Ngoài ra, đôi khi do việc chuyển giao giữa các nhân viên nhà mạng không đƣợc đầy đủ, nên có một số trƣờng không thể tìm đƣợc tài liệu liên quan. Bộ dữ liệu tôi sử dụng đƣợc lấy trong vòng 6 tháng đến thời điểm lấy mẫu. Tuy nhiên, đây vẫn là một khối lƣợng khổng lồ, với trung bình mỗi ngày xấp xỉ 300GB dạng text, tƣơng đƣơng với việc tôi phải xử lý tất cả hơn 50TB dữ liệu thô.
Vì vậy tôi đã sử dụng hệ thống quán trị của Cloudera trên nền tảng tệp dữ liệu phân tán Hadoop (HDFS) để quản lý và nâng cao hiệu suất xử lý, lƣu trữ dữ liệu cũng nhƣ cung cấp nhiều lợi ích cho các quá trình khai phá dữ liệu sau này.3 Dữ liệu đa dạng và trùng lặp Dữ liệu CDR đƣợc đến từ nhiều nguồn khác nhau, do cách lấy, cấu trúc, cũng nhƣ cách lƣu log khác nhau từ nguồn cung cấp dữ liệu. Do đó, dữ liệu bao gồm rất nhiều thông tin trùng lặp và phân tán của cùng một loại dữ liệu. Ví dụ nhƣ cùng là một dữ liệu tin nhắn SMS, có nguồn dữ liệu chỉ lƣu các bản tin phát sinh cƣớc, có nguồn dữ Luan van 6 liệu chỉ ghi các bản tin roaming, có nguồn dữ liệu lƣu đầy đủ các bản ghi nhƣng lại thiếu vài trƣờng dữ liệu so với các nguồn thông tin khác. Vì vậy, tôi phải xử lý tất các các nguồn dữ liệu, hiểu nó và sau đó so sánh và chọn một hoặc kết hợp nhiều nguồn dữ liệu về một bảng thống nhất.
Giai đoạn thực hiện ETL dữ liệu này thực sự rất vất vả và mất thời gian, nhƣng kết quả đạt đƣợc là đã rút gọn đi đƣợc 1 nửa số bảng và trƣờng dữ liệu trùng lặp và không cần thiết.4 Tập dữ liệu không cân bằng Tập dữ liệu đƣợc tạo không cân bằng vì nó là một trƣờng hợp đặc biệt của bài toán phân loại trong đó sự phân bố của một lớp thƣờng không đồng nhất với một lớp khác. Tập dữ liệu là không cân bằng nếu một trong các danh mục của nó nhỏ hơn hoặc bằng 10% so với tập còn lại. Mặc dù các thuật toán học máy thƣờng đƣợc thiết kế để cải thiện độ chính xác bằng cách giảm sai số, nhƣng không phải tất cả chúng đều tính đến việc có các tập không cân bằng và điều đó có thể cho kết quả không tốt. Nói chung, các lớp cần đƣợc cần đƣợc coi là cân bằng để có tầm quan trọng nhƣ nhau trong huấn luyện dữ liệu.5 Giá trị bị mất Các khách hàng khác nhau có thể có các gói dịch vụ khác nhau.
Vì thế, có thể có khách hàng có những gói cƣớc, dịch vụ hoặc sản phẩm mà khách hàng khác không có, trong khi họ lại có một số thứ khác. Ngoài việc giá trị bị mất, còn có thể xảy ra trƣờng hợp dữ liệu bị mất.