Chương 1 trình bày về: - Quản lý đào tạo của trường Cao đẳng sư phạm Hà nội: Thực tế, nhu cầu và một số hướng giải quyết. - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn - Phương pháp nghiên cứu và dự kiến kết quả đạt được 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.Kho dữ liệu 2.Khái niệm về kho dữ liệu Theo William Inmon [12], kho dữ liệu là một bộ dữ liệu có các đặc tính: hướng chủ đề, có tính tích hợp, ổn định, dữ liệu gắn với thời gian, thường được sử dụng trong các hệ thống hỗ trợ quyết định. Kho dữ liệu thường bao gồm: -Một hoặc nhiều công cụ để chiết xuất dữ liệu từ các dạng cấu trúc dữ liệu khác nhau. -Cơ sở dữ liệu tích hợp hướng chủ đề, ổn định được tổng hợp thông qua việc lập các bảng dữ liệu.
Một kho dữ liệu có thể được coi là một hệ thống thông tin với những thuộc tính sau: -Là một cơ sở dữ liệu được thiết kế dành cho nhiệm vụ phân tích, sử dụng các dữ liệu từ các ứng dụng khác nhau. -Hỗ trợ một số người dùng có liên quan, có sử dụng tới các thông tin liên quan. -Nội dung được cập nhật thường xuyên, chủ yếu theo hình thức bổ sung thông tin. -Chứa các dữ liệu trong lịch sử và hiện tại nhằm cung cấp các xu hướng thông tin.
-Chứa các bảng dữ liệu có kích thước lớn. -Một câu hỏi thường trả về một tập kết quả liên quan đến toàn bộ bảng và các liên kết nhiều bảng.Các đặc tính của kho dữ liệu Hƣớng chủ đề: Kho dữ liệu có thể chứa lượng dữ liệu lên tới hàng trăm Gigabyte, được tổ chức theo những chủ đề chính. Kho dữ liệu không chú trọng vào giao tác và việc xử lý giao tác. Thay vào đó, kho dữ liệu tập trung vào việc mô hình hóa, phân tích dữ liệu nhằm hỗ trợ cho nhà quản lý ra quyết định.
Do đó, các kho dữ liệu thường cung cấp một khung nhìn tương đối đơn giản bằng cách loại bớt những dữ liệu không cần thiết trong quá trình ra quyết định. Tính tích hợp: Kho dữ liệu thường được xây dựng bằng cách tổng hợp dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, ví dụ các cơ sở dữ liệu, những bản ghi thao tác trực tuyến hoặc thậm chí là những file dữ liệu độc lập. Những dữ liệu này tiếp tục được làm sạch, chuẩn hóa để đảm bảo sự nhất quán, sau đó đưa vào kho dữ liệu. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ổn định: Dữ liệu trong kho dữ liệu thường được lưu trữ lâu dài, ít bị sửa đổi, chủ yếu dùng cho việc truy xuất thông tin nên có độ ổn định cao.
Hai thao tác chủ yếu tác động tới kho dữ liệu là: nhập dữ liệu vào và truy xuất. Dữ liệu gắn với thời gian: Do có tính ổn định, kho dữ liệu thường lưu trữ dữ liệu của hệ thống trong khoảng thời gian dài, cung cấp đủ 2.Cấu trúc hệ thống của kho dữ liệu Hệ thống kho dữ liệu thường bao gồm 3 tầng: Hình 2.1: Cấu trúc hệ thống kho dữ liệu Tầng đáy: Là nơi lấy dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau sau đó làm sạch, chuẩn hóa, lưu trữ tập trung. Tầng giữa: Thực hiện các thao tác với kho dữ liệu thông qua dịch vụ OLAP (OLAP Server). Có thể cài đặt bằng Relational OLAP, Multidimensional OLAP hay kết hợp cả 2 mô hình trên thành mô hình Hybrid OLAP.
Tầng trên: thực hiện việc truy vấn, khai phá thông tin. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Dòng dữ liệu của kho dữ liệu Do kho dữ liệu chứa lượng dữ liệu lớn, đồng thời hạn chế thao tác sửa đổi nên rất thích hợp cho việc phân tích dài hạn và báo cáo. Các thao tác với dữ liệu của kho dữ liệu chủ yếu dựa trên cơ sở là Mô hình dữ liệu đa chiều (MultiDimensional data model), thường áp dụng cho các khối dữ liệu (Data cube). Khối dữ liệu là trung tâm của vấn đề cần phân tích, bao gồm một hay nhiều tập dữ kiện (fact) và các dữ kiện được tạo ra từ nhiều chiều (dimension) dữ kiện khác nhau.2: Dòng dữ liệu trong kho dữ liệu Đầu tiên, dữ liệu được lấy trong các hệ cơ sở dữ liệu tác nghiệp, có thể ở nhiều dạng khác nhau, dữ liệu được làm sạch, chuẩn hóa rồi đưa vào kho dữ liệu, cuối cùng dữ liệu được lấy từ kho dữ liệu phục vụ cho các phân tích khác nhau.Ứng dụng của kho dữ liệu Kho dữ liệu được đưa vào ba mảng ứng dụng chính.
Theo như cách khai thác truyền thống đối với cơ sở dữ liệu, kho dữ liệu được sử dụng để khai thác thông tin bằng các công cụ thực hiện truy vấn và báo cáo. Nhờ việc dữ liệu thô đã được chuyển sang thành các dữ liệu ổn đinh, có chất lượng nên kho dữ liệu đã giúp nâng cao kỹ thuật biểu diễn thông tin truyền thông. Dữ liệu đầu vào của các kỹ thuật này được đặt vào một nguồn duy nhất, giúp loại bỏ nhiều lỗi sinh ra do phải thu thập và biểu diễn thông tin từ nhiều nguồn khác nhau đồng thời giảm bớt sự chậm trễ do phải lấy 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dữ liệu từ những phân đoạn khác nhau, tránh cho người dùng phải viết những truy vấn SQL quá phức tạp. Với cách thứ hai, các kho dữ liệu được sử dụng để hỗ trợ cho phân tích trực tuyến (OLAP).
Trong khi ngôn ngữ SQL và các công cụ xây dựng báo cáo truyền thống chỉ có thể mô tả những gì có trong cơ sở dữ liệu thì phân tích trực tuyến có khả năng phân tích dữ liệu, xác định xem giả thuyết đúng hay sai. Tuy nhiên, phân tích trực tuyến lại không có khả năng đưa ra các giả thuyết. Ngoài ra, sử dụng OLAP còn giúp phân tích tổng hợp dữ liệu, đưa ra kết quả bằng các báo cáo hoặc bảng biểu trực quan. Cách thứ ba để khai thác kho dữ liệu là dựa trên các kỹ thuật khai phá.
Đây là một phương pháp mới, đáp ứng được cả những yêu cầu trong nghiên cứu khoa học cũng như yêu cầu trong thực tiễn. Các kết quả thu được mang nhiều tính dự báo, dự đoán, dùng trong việc xây dựng kế hoạch, chiến lược. Các lĩnh vực hiện tại áp dụng kho dữ liệu: -Thương mại điện tử. -Kế hoạch hóa nguồn lực doanh nghiệp (ERP – Enterprise Resource Planning).
-Quản lý quan hệ khách hàng (CRM – Customer Relationship Management). -Chăm sóc sức khỏe.Mô hình dữ liệu sử dụng trong kho dữ liệu Dữ liệu trong kho được thiết kế theo mô hình dữ liệu đa chiều (Dimensional Modeling). Mô hình dữ liệu đa chiều sử dụng ba khái niệm cơ bản: Khối (Cubes), Sự kiện (Facts), Chiều (Dimensions). Mô hình không phù hợp với hệ thống OLTP và dữ liệu được thao tác bởi các công cụ OLAP.
Cơ sở dữ liệu đa chiều thường quan tâm đến hai mức tổng hợp và chi tiết nên kích thước thường rất lớn. Đồng thời, chúng thường quan tâm đến yếu tố thời gian, dùng để theo dõi biến động thực tế theo thời gian. Do đó, chiều thời gian được dùng làm bản lề cho mọi phân tích. Bảng chiều: Chứa dữ liệu miêu tả về một công việc, đối tượng.
Kích thước tương đối nhỏ so với bảng Sự kiện. Đây là bộ lọc hoặc các ràng buộc của những sự kiện ở bảng sự kiện. Bảng sự kiện: Kích thước lớn, chứa dữ liệu định lượng hoặc sự kiện (có độ đo số học) Khối: Một khối có thể có nhiều chiều. Mô hình dữ liệu của kho dữ liệu có thể thiết lập theo: -Sơ đồ hình sao (star schema): Một bảng sự kiện ở trung tâm được kết nối với một tập các bảng chiều.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -Sơ đồ bông tuyết (Snowflake schema): Một mở rộng của sơ đồ hình sao trong đó một vài cấu trúc chiều được chuẩn hóa thành một tập các bảng chiều nhỏ hơn, hình thức tương tự như bông tuyết.Các bước xây dựng kho dữ liệu Các bước xây dựng kho dữ liệu: -Lập kế hoạch tổng thể. -Xác định yêu cầu. -Mở rộng và duy trì.Phân tích trực tuyến (OLAP) 2. OLAP OLAP là một kỹ thuật sử dụng các thể hiện dữ liệu đa chiều gọi là các khối (cube) nhằm cung cấp khả năng truy xuất nhanh đến dữ liệu của kho dữ liệu.
Tạo khối (cube) cho dữ liệu trong các bảng chiều (dimension table) và bảng sự kiện (fact table) trong kho dữ liệu và cung cấp khả năng thực hiện các truy vấn tinh vi và phân tích cho các ứng dụng client. Trong khi kho dữ liệu và data mart lưu trữ dữ liệu cho phân tích, thì OLAP là kỹ thuật cho phép các ứng dụng client truy xuất hiệu quả dữ liệu này. OLAP cung cấp nhiều lợi ích cho người phân tích, cho ví dụ như: Cung cấp mô hình dữ liệu đa chiều trực quan cho phép dễ dàng lựa chọn, định hướng và khám phá dữ liệu. Cung cấp một ngôn ngữ truy vấn phân tích, cung cấp sức mạnh để khám phá các mối quan hệ trong dữ liệu kinh doanh phức tạp.
Dữ liệu được tính toán trước đối với các truy vấn thường xuyên nhằm làm cho thời gian trả lời rất nhanh đối với các truy vấn đặc biệt. Cung cấp các công cụ mạnh giúp người dùng tạo các khung nhìn mới của dữ liệu dựa trên một tập các hàm tính toán đặc biệt. OLAP được đặt ra để xử lý các truy vấn liên quan đến lượng dữ liệu rất lớn mà nếu cho thực thi các truy vấn này trong hệ thống OLTP sẽ không thể cho kết quả hoặc sẽ mất rất nhiều thời gian.Mô hình dữ liệu đa chiều Các nhà quản lý kinh doanh có khuynh hướng suy nghĩ theo “nhiều chiều” (multidimensionally). Suy nghĩ một cách trực giác, việc kinh doanh như một khối (cube) dữ liệu, với các nhãn trên mỗi cạnh của khối (xem hình bên dưới).
Các điểm bên trong khối là các giao điểm của các cạnh. Các cạnh của khối là Sản phẩm, Thị trường, và Thời 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hầu hết mọi người đều có thể nhanh chóng hiểu và tưởng tượng rằng các điểm bên trong khối là các độ đo hiệu quả kinh doanh mà được kết hợp giữa các giá trị Sản phẩm, Thị trường và Thời gian. Saûn phaåm Thôøi gian Thò tröôøng Hình 2.3: Mô hình đa chiều 2.
Mô phỏng các chiều trong kinh doanh Một khối dữ liệu (datacube) thì không nhất thiết phải có cấu trúc 3 chiều (3-D), nhưng về cơ bản là có thể có N chiều (N-D). Những cạnh của khối được gọi là các chiều (dimensions), mà đó là các mặt hoặc các thực thể ứng với những khía cạnh mà tổ chức muốn ghi nhận.