Luận văn thạc sĩ về dự báo quỹ đạo bão 5 ngày tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu dự báo quỹ đạo bão ảnh hưởng đến Việt Nam trong 5 ngày bằng phương pháp tổ hợp và kỹ thuật nuôi nhiễu.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

160
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: Tổng quan về dự báo tổ hợp và dự báo tổ hợp quỹ đạo bão

1.1. Cơ sở lý thuyết dự báo tổ hợp

1.2. Các cách tạo nhiễu cho trường ban đầu bằng phương pháp BV

1.2.1. Phương pháp nuôi nhiễu ẩn (masked breeding)

1.2.2. Phương pháp nuôi nhiễu tại Nhật và Châu Âu

1.2.3. Phương pháp nuôi nhiễu kết hợp với quay nhân tố (Rotation breeding-RBV)

1.2.4. Kỹ thuật chuyển vị tổ hợp (ET-Breeding)

1.3. Các nghiên cứu và ứng dụng về nhiễu biên ngang (LBC) của hệ thống EPS

1.4. Các nghiên cứu và ứng dụng về đa cơ chế vật lý và động lực của mô hình để xây dựng EPS

1.5. Hoạt động của bão ở khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương và nghiên cứu dự báo bão bằng phương pháp tổ hợp

1.5.1. Đặc điểm hoạt động bão tại khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương và biển Đông

1.5.2. Dự báo bão của các nước cho khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương bằng EPS

1.5.3. Tình hình nghiên cứu dự báo bão ở trong nước

2. CHƯƠNG 2: Phương pháp nuôi nhiễu khi có bão và lựa chọn các tham số cho mô hình RAMS để dự báo tổ hợp quỹ đạo bão ở Việt Nam

2.1. Nhiễu môi trường và nhiễu xoáy

2.2. Đề xuất phương án nuôi nhiễu môi trường và nhiễu xoáy khi có bão cho khu vực Việt Nam

2.2.1. Tạo nhân ban đầu

2.2.2. Phương pháp cài xoáy giả cho trường GFS

2.2.3. Phương án nuôi nhiễu khi có bão

2.2.4. Chuẩn hóa nhiễu môi trường và nhiễu xoáy

2.2.4.1. Chuẩn hóa nhiễu môi trường
2.2.4.2. Chuẩn hóa nhiễu xoáy

2.2.5. Trực giao nhiễu môi trường và nhiễu xoáy

2.2.5.1. Trực giao nhiễu môi trường
2.2.5.2. Trực giao nhiễu xoáy

2.3. Nhiễu trên biên

2.4. Quy trình nuôi nhiễu

2.5. Lựa chọn tham số cho mô hình RAMS để dự báo bão ở Việt Nam

2.5.1. Cấu hình miền tính

2.5.2. Giới thiệu sơ lược về mô hình RAMS

2.5.2.1. Các phương trình cơ bản của RAMS
2.5.2.2. Cấu trúc lưới
2.5.2.3. Các điều kiện biên

2.6. Số liệu sử dụng và phương pháp tìm tâm bão

2.6.1. Phương pháp dò tìm tâm bão

2.7. Các phương pháp tổ hợp kết quả dự báo

2.7.1. Dự báo tất định từ các thành phần dự báo tổ hợp

2.7.1.1. Trung bình đơn giản
2.7.1.2. Dự báo siêu tổ hợp

2.7.2. Dự báo xác suất từ các thành phần dự báo tổ hợp bão

2.8. Đánh giá dự báo tổ hợp

2.8.1. Tính sai số khoảng cách

2.8.2. Tính sai số ngang

2.8.3. Tính sai số dọc

3. CHƯƠNG 3: Dự báo tổ hợp quỹ đạo bão ở Việt Nam dựa trên phương pháp nuôi nhiễu phát triển

3.1. Khảo sát vai trò của các tham số trong mô hình RAMS và vai trò của nhiễu xoáy và nhiễu môi trường để dự báo quỹ đạo bão hạn 5 ngày

3.1.1. Lựa chọn sơ đồ đối lưu trong mô hình RAMS để dự báo quỹ đạo bão

3.1.2. Cấu trúc nhân ban đầu

3.1.3. Ảnh hưởng của nhiễu môi trường tới quỹ đạo dự báo

3.1.3.1. Phân tích quá trình phát triển của nhiễu môi trường trong 24 giờ nuôi nhiễu
3.1.3.2. Ảnh hưởng của nhiễu môi trường tới quỹ đạo bão dự báo hạn 5 ngày

3.1.4. Ảnh hưởng của nhiễu xoáy tới quỹ đạo bão dự báo

3.1.4.1. Phân tích quá trình phát triển của nhiễu xoáy trong 24 giờ nuôi nhiễu
3.1.4.2. Ảnh hưởng của nhiễu xoáy tới quỹ đạo của bão hạn 5 ngày

3.1.5. Ảnh hưởng của nhiễu môi trường kết hợp với nhiễu xoáy tới dự báo quỹ đạo bão

3.1.5.1. Phân tích quá trình phát triển của nhiễu môi trường và nhiễu xoáy trong 24 giờ nuôi nhiễu
3.1.5.2. Ảnh hưởng của nhiễu môi trường kết hợp với nhiễu xoáy tới quỹ đạo dự báo của bão hạn 5 ngày

3.1.6. Ảnh hưởng của nhiễu môi trường, nhiễu xoáy và sơ đồ đối lưu tới dự báo quỹ đạo bão

3.2. Dự báo tổ hợp quỹ đạo bão bằng phương pháp nuôi nhiễu phát triển

3.2.1. Dự báo từ các thành phần tổ hợp

3.2.2. Dự báo tổ hợp bằng phương pháp trung bình đơn giản các thành phần tổ hợp

3.2.2.1. Tuyển chọn nhân tố và bộ số liệu dùng để tuyển chọn
3.2.2.2. Phương trình dự báo siêu tổ hợp vị trí tâm bão
3.2.2.3. Thử nghiệm hệ thống dự báo tổ hợp cho một số cơn bão điển hình

3.3. Hướng di chuyển phức tạp

3.4. Dự báo quỹ đạo bão bằng phương pháp xác suất

3.5. Đề xuất quy trình dự báo bão hạn 5 ngày bằng hệ thống dự báo tổ hợp dựa trên phương pháp nuôi nhiễu

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về dự báo quỹ đạo bão 5 ngày ảnh hưởng đến Việt Nam

Dự báo quỹ đạo bão là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong lĩnh vực khí tượng, đặc biệt là tại Việt Nam, nơi thường xuyên chịu ảnh hưởng của các cơn bão. Việc dự báo chính xác quỹ đạo bão không chỉ giúp giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản mà còn hỗ trợ trong việc lên kế hoạch ứng phó kịp thời. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, việc áp dụng các phương pháp dự báo hiện đại trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

1.1. Tầm quan trọng của dự báo thời tiết tại Việt Nam

Dự báo thời tiết đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an toàn cho người dân và tài sản. Các cơn bão có thể gây ra thiệt hại lớn, do đó, việc dự báo chính xác giúp các cơ quan chức năng có kế hoạch ứng phó kịp thời.

1.2. Các phương pháp dự báo quỹ đạo bão hiện nay

Hiện nay, có nhiều phương pháp dự báo quỹ đạo bão, bao gồm phương pháp thống kê, mô hình số và phương pháp tổ hợp. Mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng, nhưng việc kết hợp chúng có thể nâng cao độ chính xác của dự báo.

II. Thách thức trong dự báo quỹ đạo bão tại Việt Nam

Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức trong việc dự báo quỹ đạo bão, bao gồm sự phức tạp của khí hậu và địa hình. Các yếu tố như gió, áp suất và độ ẩm có thể thay đổi nhanh chóng, ảnh hưởng đến quỹ đạo bão. Ngoài ra, việc thiếu dữ liệu chính xác và kịp thời cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến dự báo bão

Biến đổi khí hậu làm tăng cường độ và tần suất của các cơn bão, gây khó khăn cho việc dự báo. Các mô hình dự báo cần được cập nhật thường xuyên để phản ánh đúng tình hình thực tế.

2.2. Khó khăn trong việc thu thập dữ liệu khí tượng

Việc thu thập dữ liệu khí tượng tại các khu vực xa xôi, hẻo lánh gặp nhiều khó khăn. Điều này ảnh hưởng đến độ chính xác của các mô hình dự báo quỹ đạo bão.

III. Phương pháp tổ hợp trong dự báo quỹ đạo bão 5 ngày

Phương pháp tổ hợp là một trong những kỹ thuật tiên tiến được sử dụng để dự báo quỹ đạo bão. Phương pháp này kết hợp nhiều mô hình dự báo khác nhau để tạo ra một dự báo chính xác hơn. Việc áp dụng phương pháp này đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao độ chính xác của dự báo.

3.1. Nguyên lý hoạt động của phương pháp tổ hợp

Phương pháp tổ hợp hoạt động dựa trên nguyên lý kết hợp các dự báo từ nhiều mô hình khác nhau. Điều này giúp giảm thiểu sai số và tăng cường độ tin cậy của dự báo.

3.2. Lợi ích của việc sử dụng phương pháp tổ hợp

Việc sử dụng phương pháp tổ hợp giúp cải thiện độ chính xác của dự báo quỹ đạo bão, từ đó giảm thiểu thiệt hại do bão gây ra. Nó cũng giúp các cơ quan chức năng có thể đưa ra quyết định kịp thời hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn của dự báo quỹ đạo bão tại Việt Nam

Dự báo quỹ đạo bão không chỉ là một công việc lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Các cơ quan chức năng, như Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia, sử dụng các dự báo này để lên kế hoạch ứng phó với bão, bảo vệ an toàn cho người dân và tài sản.

4.1. Các biện pháp ứng phó với bão

Các biện pháp ứng phó với bão bao gồm việc sơ tán dân cư, chuẩn bị vật tư cứu trợ và thông báo kịp thời đến người dân. Dự báo chính xác giúp các cơ quan chức năng thực hiện các biện pháp này hiệu quả hơn.

4.2. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp dự báo hiện đại đã giúp giảm thiểu thiệt hại do bão gây ra. Các mô hình dự báo ngày càng chính xác hơn, giúp người dân yên tâm hơn trong mùa bão.

V. Kết luận và tương lai của dự báo quỹ đạo bão tại Việt Nam

Dự báo quỹ đạo bão là một lĩnh vực quan trọng và cần thiết tại Việt Nam. Với sự phát triển của công nghệ và các phương pháp dự báo hiện đại, hy vọng rằng độ chính xác của dự báo sẽ ngày càng được nâng cao. Điều này không chỉ giúp bảo vệ an toàn cho người dân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

5.1. Tương lai của dự báo bão tại Việt Nam

Trong tương lai, việc áp dụng công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo và học máy có thể giúp cải thiện độ chính xác của dự báo bão. Các nghiên cứu cần tiếp tục được thực hiện để phát triển các mô hình dự báo hiệu quả hơn.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong việc ứng phó với bão

Cộng đồng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ứng phó với bão. Việc nâng cao nhận thức và chuẩn bị sẵn sàng cho các tình huống khẩn cấp sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại do bão gây ra.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ dự báo quỹ đạo bão ảnh hưởng đến việt nam hạn 5 ngày bằng phương pháp tổ hợp sử dụng kỹ thuật nuôi nhiễu luận văn ths khí tượng học 62 44 02 22

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: Tổng quan về dự báo tổ hợp và dự báo tổ hợp quỹ đạo bão 1.1 Cơ sở lý thuyết dự báo tổ hợp Để giảm thiểu những tác hại do bão gây ra, rất nhiều phương pháp được sử dụng để dự báo cường độ và quỹ đạo bão như phương pháp synop, thống kê, số trị. Hiện nay, các mô hình số dự báo thời tiết đã được đưa vào ứng dụng nghiệp vụ và nghiên cứu ở Việt Nam. Tuy nhiên, chất lượng dự báo bão của các mô hình này nhiều lúc chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra do sai số dự báo quĩ đạo và cường độ còn lớn. Nguyên nhân cơ bản là do sai số vị trí và cường độ của bão trong các trường phân tích và dự báo toàn cầu, cùng với các xấp xỉ vật lý và thuật toán chưa tốt tồn tại trong mỗi mô hình.

Để nâng cao độ chính xác của các mô hình số trong dự báo bão nhất thiết phải cải thiện trường ban đầu và áp dụng các biện pháp thống kê để loại bỏ các sai số hệ thống. Vấn đề cải tiến trường ban đầu cho các mô hình dự báo bão, từ trước tới nay trên thế giới thường sử dụng kỹ thuật ban đầu hóa xoáy nhằm xây dựng được một xoáy nhân tạo có cấu trúc và vị trí gần với xoáy thực hơn để tạo trường ban đầu cho các mô hình số. Gần đây, để cải tiến trường ban đầu, các trung tâm trên thế giới nghiên cứu và áp dụng các phương pháp đồng hóa số liệu hay cấy và nuôi nhiễu cho trường ban đầu. Các trường ban đầu sau khi được cải tiến sẽ được sử dụng để làm trường ban đầu cho mô hình dự báo số, các sản phẩm dự báo số được sử dụng trong bài toán tổ hợp.

Lorenz (1963) [87] với giả thuyết rằng: “Các nghiệm số thu được trong quá trình tích phân mô hình theo các điều kiện ban đầu khác nhau (có chứa sai số) có thể phân kì theo thời gian”. Điều này được giải thích bằng hiệu ứng Butterfly: do bản chất phi tuyến của các phương trình mô tả khí quyển nên những sai số nhỏ không thể đo được trong trạng thái ban 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đầu của khí quyển sẽ trở thành những sai số đủ lớn sau một khoảng thời gian tích phân (2 tuần). Những nghiên cứu của Lorenz (1963, 1969) [87, 88] cho thấy khả năng dự báo trạng thái khí quyển bị hạn chế chủ yếu là do 2 nguyên nhân chính. Nguyên nhân thứ nhất là sai số phân tích, sai số này được xác định bằng sự khác biệt giữa trạng thái thực của khí quyển và trạng thái phân tích trường ban đầu.

Nguyên nhân thứ hai là sai số của mô hình, do mô hình chưa mô tả được hết các quá trình vật lý phức tạp trong tự nhiên. Nghiên cứu sau này của Toth và Kalnay (1993) [109] về tổ hợp các sản phẩm dự báo của mô hình sử dụng trường ban đầu có chứa nhiễu nuôi cũng cho thấy tầm quan trọng và tính năng ưu việt của khả năng dự báo trạng thái khí quyển theo không gian và thời gian. Kết quả nghiên cứu cho thấy: “Nếu dự báo cho độ chính xác thấp tại một khu vực nào đó là dấu hiệu của sự bất định của dòng cơ bản. Các sai số nhỏ của trường ban đầu (hoặc không hoàn hảo trong mô hình) sẽ phát triển với biên độ lớn trong thời gian hữu hạn”.

Các đặc tính ổn định của dao động phát triển trong dòng cơ bản đã được nghiên cứu và sử dụng trong các véc tơ như: véc tơ Lyapunov (Kalnay, 2003) [73] hay véc tơ kỳ dị (Lorenz, 1965) [88] và véc tơ nuôi (Cai, 2002) [42]. Theo nghiên cứu của Du (2007) [53]: “Dự báo tổ hợp là một phương pháp động lực. Dòng cơ bản phụ thuộc vào định lượng của độ bất định dự báo (sai số ngày) và cung cấp thông tin cơ sở để liên kết giữa độ bất định dự báo và độ tin cậy dự báo cho người dùng để sau đó có thể được chuẩn bị tốt nhất”. Cũng theo ông, ba đặc tính cơ bản cần phải tuân theo khi nghiên cứu những dao động của nhiễu phát triển nhanh trong trường ban đầu: “Tính sát thực, tính phân kỳ và tính trực giao.

Trong đó tính sát thực là độ lớn của nhiễu cần nằm trong cỡ của sai số phân tích thực và đặc trưng cho phân bố phổ thực tế trên quy mô không gian. Độ bất định của trường ban đầu lớn ở trong các sóng quy mô nhỏ (khó quan trắc được) và nhỏ trong các sóng quy mô lớn (dễ quan trắc được). Tính phân kỳ là các nhiễu cần có cấu trúc phát triển động lực trong các 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành phần sao cho các thành phần này phân nhánh nhiều nhất trong quá trình tích phân mô hình để chúng chứa tất cả các trường hợp có thể xảy ra trong không gian của mô hình. Tính trực giao là các nhiễu thành phần cần được trực giao để cực đại hóa dung lượng thông tin chứa trong tổ hợp, tính chất này đặc biệt quan trọng trong dự báo tổ hợp các quá trình quy mô nhỏ”.

Phát triển tiếp ý tưởng của Lorenz, Epstein (1969) [58] đề xuất cách tiếp cận phương pháp ngẫu nhiên động lực lý thuyết, phương pháp này mô tả phân bố sai số dự báo (trung bình, phương sai và hàm mật độ xác suất) trong các phương trình của mô hình. Tuy nhiên, phương án này là không khả thi vì năng lực tính toán hạn chế tại thời điểm đó. Số lượng các phương trình dự báo cần để giải bài toán là quá lớn cho hệ thống khí quyển thực. Nhiễu ngẫu nhiên mô tả tốt độ lớn trung bình của độ bất định trường ban đầu trong phân tích (tính sát thực), nhưng nó có những hạn chế trong việc phát triển cấu trúc không gian động lực và không phản ánh được “sai số ngày”.

Kết quả là, nhiễu phát triển với tốc độ chậm và do đó, tính phân kỳ giữa các thành phần trong trường hợp này thường không lý tưởng. Leith cũng đề xuất phương pháp "ước lượng tối ưu", phương pháp này được tính bằng hồi quy tuyến tính trên các dự báo động lực với trọng số tối ưu được xác định từ ma trận sai số. Năm 1983, Hoffman và Kalnay [65] đề xuất phương pháp dự báo trung bình trễ (LAF) để thay thế cho phương pháp dự báo Monte Carlo, trong đó trạng thái ban đầu tại thời điểm t=0, được lấy từ các kỳ quan trắc trước (t=-t, -2t, …,-(n-1)t) với t là khoảng cách giữa các kỳ quan trắc t=06. Tất cả các trạng thái ban đầu này được đưa vào mô hình dự báo và kết quả chúng tạo ra được một bộ tổ hợp.

Ưu điểm của phương pháp LAF có thể chỉ ra lỗi của một dự báo cũ tại thời điểm t=0 (thời điểm ban đầu) một cách trực tiếp như 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một nhiễu của trường ban đầu, chúng có thể phản ánh “sai số ngày” và có cấu trúc động lực phát triển của độ tán tổ hợp lớn hơn so với phương pháp nhiễu ngẫu nhiên. Ngoài ra, phương pháp LAF còn có ưu điểm là nhiễu sinh ra hoàn toàn tự do và không cần tạo nhiễu trường ban đầu cho tổ hợp. Tuy nhiên trong các nghiên cứu sau này đã chỉ ra 2 nhược điểm của dự báo trễ là: Một dự báo tổ hợp LAF lớn sẽ phải bao gồm dự báo quá "cũ". Nhược điểm thứ hai của LAF là do không sử dụng trọng số tối ưu, trung bình của dự báo tổ hợp LAF có thể bị giảm bởi các thông tin dự báo quá cũ.

Khắc phục nhược điểm trên, năm 1991, Ebisuzaki và Kalnay [56] giới thiệu một biến thể của dự báo trễ hay còn gọi dự báo trung bình trễ có chuẩn hóa (SLAF). Các nhiễu thu được bằng cách tính toán các sai số dự báo của các dự báo được bắt đầu tại thời điểm t=-jτ, với j=1,. Với giả thiết rằng các sai số phát triển tuyến tính với thời gian trong 2-3 ngày đầu, trường phân tích được trừ (hoặc cộng) với các nhiễu này để tạo ra các trường ban đầu mới. Những lợi thế của dự báo SLAF là: Các nhiễu ban đầu của các thành phần tham gia dự báo tổ hợp có kích thước xấp xỉ như nhau.

Ưu điểm thứ hai của SLAF là số lượng thành phần tham gia dự báo tăng gấp đôi đối với dự báo trễ. Hai phương pháp dự báo tổ hợp LAF và SLAF được sử dụng ở trung tâm NCEP từ những năm 1991. Kết quả bước đầu cho thấy nhiễu ban đầu của hai phương pháp này đều phát triển nhanh hơn so với phương pháp Monte Carlo về cả kích thước cũng như phân bố thống kê. Nhược điểm của phương pháp SLAF là nó không thể tạo được tổ hợp với các thành phần có kích cỡ đủ lớn do số lượng mẫu dự báo cũ có chất lượng tốt có thể sử dụng bị giới hạn trong thực tế (không thể lấy các dự báo quá cũ để làm nhiễu ban đầu).

Mặt khác, chất lượng của dự báo sẽ bị giảm xuống đáng kể nếu mẫu dự báo quá cũ chứa đựng một tổ hợp kích cỡ lớn. Bên cạnh đó, các phương pháp SLAF thường được sử dụng như là “nhân ban đầu” để khởi động lạnh cho một hệ thống tổ hợp khác ví dụ như phương pháp nuôi nhiễu. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dựa trên các hiểu biết về LAF và SLAF, Toth và Kalnay (1993; 1997) [109, 110] tạo ra một chu kỳ hoạt động đặc biệt hay còn gọi "nuôi những “sai số ngày” phát triển nhanh” (kí hiệu: BGM hay BV). Chu kỳ nuôi được bắt đầu bằng nhiễu ngẫu nhiên ban đầu (nhân ngẫu nhiên).

Cần lưu ý rằng, các nhân ngẫu nhiên được đưa vào chỉ một lần trong cả chu kỳ nuôi, giống như một mô hình phi tuyến được tích phân từ trường phân tích ban đầu tại thời điểm t=0 (trường kiểm chứng) và từ điều kiện nhiễu ban đầu. Sau khoảng thời gian cố định (ví dụ: 6 giờ hoặc 24 giờ), dự báo kiểm chứng được trừ với trường nhiễu dự báo. Sự khác biệt là quá trình giảm quy mô (scaled down) để nó có biên độ giống như nhiễu ban đầu (xác định bằng cách sử dụng quy tắc tùy ý), sau đó nhiễu mới vừa tạo ra được thêm vào trường phân tích tại thời điểm đó nhằm tạo ra trường phân tích mới. Theo Kalnay (2003) [73]: “Các dao động “sai số ngày” được xác định sau thời gian khoảng 3-4 ngày kể từ lúc gây nhiễu ngẫu nhiên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ