CHƯƠNG 1. KCN và nước thải KCN ở Việt Nam 1. Thực trạng đầu tư và phát triển các KCN ở Việt Nam Như đã đề cập, khái niệm về KCN tại Việt Nam đã được hình thành từ năm 1991 với KCN đầu tiên của Việt Nam là KCX Tân Thuận. Kể từ thời điểm đó, nhận thức về KCN đã dần được hình thành và phát triển rõ ràng hơn.
Theo văn bản pháp quy mới nhất về KCN là Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013, KCN được định nghĩa là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định pháp luật. KCX được định nghĩa là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu [11]. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có loại hình cụm công nghiệp, là một dạng KCN ở quy mô nhỏ (thường dưới 70 ha) và không có hệ thống hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh như KCN. Trong các quy định của pháp luật và các tài liệu, nghiên cứu có liên quan khác, trừ khi được chỉ rõ, thuật ngữ “khu công nghiệp” và “khu chế xuất” thường được gọi chung là KCN.
Trong luận án này, thuật ngữ KCN cũng được sử dụng chung cho KCN và KCX, không bao gồm loại hình cụm công nghiệp. Phân loại KCN ở Việt Nam KCN ở Việt Nam chia thành 4 loại như sau: (1) Các KCN được thành lập trên khu vực đã có một số doanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động như KCN Biên Hòa 1 (Đồng Nai); KCN Tân Bình, KCN Bình Chiểu (thành phố Hồ Chí Minh)… nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển KCN theo đúng quy hoạch mới, đồng thời tạo hạ tầng kỹ thuật phục vụ tốt việc phát triển công nghiệp, có điều kiện xử lý chất thải công nghiệp một cách tập trung, đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trường. (2) Các KCN được hình thành nhằm đáp ứng yêu cầu cho việc di dời các nhà 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com máy, xí nghiệp đang ở trong nội thành các đô thị lớn, do nhu cầu chỉnh trang đô thị và bảo vệ môi trường như KCN Lê Minh Xuân (thành phố Hồ Chí Minh); KCN Bình An, KCN Bình Đường (Bình Dương)… (3) Các KCN hiện đại và có quy mô lớn, xây dựng mới. Các KCN thuộc loại này do các công ty trong và ngoài nước đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng theo quy định của pháp luật về đầu như KCN Nomura (Hải Phòng), KCN Việt Nam - Singapore (Bình Dương, Bắc Ninh, Quảng Ngãi…), KCN Amata, KCN Nhơn Trạch (Đồng Nai).
Nhìn chung các KCN này có tốc độ xây dựng hạ tầng tương đối nhanh, chất lượng hạ tầng đạt tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống xử lý chất thải công nghiệp tiên tiến, đồng bộ và một số KCN có nhà máy phát điện riêng, tạo điều kiện hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước muốn làm ăn lâu dài tại Việt Nam, có khả năng tài chính, công nghệ tiên tiến cần KCN đạt tiêu chuẩn quốc tế. (4) Các KCN có quy mô nhỏ gắn liền với nguồn nguyên liệu nông, lâm, thủy sản được hình thành ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Trung du Bắc Bộ và duyên hải miền Trung. Các KCN ở Việt Nam chủ yếu là KCN đa ngành, đa lĩnh vực, có loại hình sản xuất công nghiệp đa dạng và phong phú. KCN chuyên ngành, là KCN chỉ có 01 loại hình sản xuất công nghiệp duy nhất, chiếm tỷ lệ khá nhỏ trong tổng số các KCN ở Việt Nam.
Tình hình phát triển KCN ở Việt Nam Tính đến tháng 8 năm 2016, trong tổng số 318 KCN được thành lập, có 216 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 57,9 ngàn ha và 97 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản, với tổng diện tích đất tự nhiên 26,1 ngàn ha [43]. Tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê của các KCN đạt 26,5 ngàn ha, tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 48%, tính riêng các KCN đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt trên 67%. Tình hình phát triển KCN ở Việt Nam được thể hiện ở Hình 1. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 350 300 Số lượng KCN (khu) 250 200 150 100 50 0 1991 1995 2000 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2015 2016 Năm Nguồn: [43, 44] Hình 1.
Tình hình phát triển KCN trong giai đoạn 1991 - 2016 Trong số 318 dự án đầu tư phát triển hạ tầng KCN, có 49 dự án KCN có vốn đầu tư nước ngoài và 269 dự án KCN có vốn đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký 318,5 ngàn tỷ đồng; tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 132 ngàn tỷ đồng (đạt 41,5%) [43, 44]. Các KCN trên cả nước thu hút được 6.160 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký 95 tỷ USD, tổng vốn đầu tư đã thực hiện đạt 58,5 tỷ USD, bằng 61,6% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tổng doanh thu từ các cơ sở sản xuất kinh doanh trong KCN đạt 108 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp đạt 80 tỷ USD; kim ngạch nhập khẩu đạt 71 tỷ USD; đóng góp vào ngân sách nhà nước 2,2 tỷ USD; tổng số lao động trong KCN khoảng 2,6 triệu người [43, 44]. Cho đến nay, có đến trên 50% giá trị công nghiệp, 53% giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam được hình thành từ các KCN và sẽ còn tiếp tục tăng trong các năm tiếp theo [43].
Các KCN nhìn chung được thành lập phù hợp với quy hoạch phát triển các KCN cả nước cũng như quy hoạch sử dụng đất và phát triển công nghiệp của địa phương. Vùng Đông Nam Bộ có số lượng KCN được thành lập nhiều nhất với 105 KCN (33% cả nước), tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng với 79 KCN (25% cả nước) và vùng Tây Nam Bộ với 51 KCN (16% cả nước) [43, 44]. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tỷ lệ phân bố KCN trên cả nước được thể hiện ở Hình 1. Trung du miền Tây Nam Bộ núi phía Bắc 16% 8% Đồng bằng sông Hồng 25% Đông Nam Bộ 33% Miền Trung Tây Nguyên 15% 3% Nguồn: [43, 44] Hình 1.
Tỷ lệ phân bố KCN trên địa bàn cả nước năm 2016 Với thông tin tổng quan về tình hình phát triển KCN ở Việt Nam có thể thấy tốc độ hình thành và phát triển các KCN là khá nhanh chóng và ổn định trong các năm qua. Nếu vẫn giữ tốc độ này, đến năm 2030, Việt Nam có thể có đến khoảng 700 KCN các loại. Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (trong đó 03 tỉnh Đông Nam Bộ là Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo) là khu vực có số lượng KCN nhiều nhất trong cả nước. Thoát nước và xử lý nước thải KCN 1.
Nguồn phát sinh nước thải KCN Một cách tổng quát, nước thải KCN gồm có các loại sau: (1) nước thải sản xuất phát sinh từ các cơ sở sản xuất trong KCN, bao gồm nước thải công nghệ, nước thải vệ sinh nhà xưởng, vệ sinh trang thiết bị và nước làm mát (nếu có chứa chất ô nhiễm do làm mát trực tiếp); (2) nước thải từ các cơ sở dịch vụ công nghiệp trong KCN, và 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (3) nước thải sinh hoạt phát sinh từ các cơ sở trong KCN. Thông thường, một cơ sở sản xuất công nghiệp có nước thải công nghiệp, có thể có nước thải sinh hoạt và nước thải dịch vụ. Tất cả các loại nước thải phát sinh từ cơ sở sản xuất công nghiệp được gọi chung là nước thải công nghiệp. Đặc trưng về thoát nước và xử lý nước thải KCN ở Việt Nam Mô hình KCN có ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có các quốc gia công nghiệp phát triển; tuy nhiên, các cơ sở sản xuất trong KCN ở các quốc gia này phải tự xử lý nước thải của mình trước khi thải ra môi trường (trong một số trường hợp có thể xả ra đường thoát nước thải chung của KCN trước khi thải ra nguồn tiếp nhận nước thải).
Trong khi đó, pháp luật Việt Nam có quy định về hạ tầng và thoát nước KCN như sau: (1) KCN phải có hệ thống cấp nước đến từng cơ sở tiêu thụ nước; (2) KCN phải có hệ thống tiêu thoát nước mặt (gồm nước mưa chảy tràn, nước thải quy ước sạch) độc lập với hệ thống thu gom, xử lý nước thải; áp dụng nguyên tắc thoát nước riêng cho mọi KCN; (3) Nước thải KCN phải được xử lý 02 cấp. Sau khi được xử lý cục bộ tại trạm xử lý nước thải của từng nhà máy, nước thải sẽ được đấu nối vào mạng lưới thu gom nước thải chung của KCN và được tiếp tục xử lý tại trạm XLNTTT trước khi thải ra nguồn tiếp nhận; (4) Chủ đầu tư KCN có trách nhiệm hoàn thiện cơ sở hạ tầng KCN trước khi tiếp nhận nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào KCN; (5) KCN phải có báo cáo ĐTM được phê duyệt trước khi triển khai thực hiện. Sơ đồ nguyên tắc thoát nước các KCN ở Việt Nam được thể hiện ở Hình 1. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NGUỒN NƯỚC MƯA TIẾP NHẬN NƯỚC MƯA NƯỚC THẢI QUY ƯỚC SẠCH NƯỚC THẢI TRẠM XỬ SINH HOẠT, DỊCH VỤ LÝ NƯỚC MẠNG THẢI LƯỚI THU NGUỒN CỤC BỘ GOM VÀ TIẾP CỦA TRẠM NHẬN TỪNG CƠ XLNTTT NƯỚC NƯỚC THẢI KCN THẢI SỞ CÔNG NGHIỆP Hình 1.
Sơ đồ nguyên tắc thoát nước KCN Tùy thuộc tính chất nước thải của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ KCN cũng như công nghệ của trạm XLNTTT và đặc điểm của nguồn tiếp nhận nước thải, từng KCN có quy định cụ thể về mức độ chất lượng đạt được của nước thải sau khi xử lý cục bộ tại từng cơ sở. Yêu cầu về chất lượng, khối lượng nước thải có thể được tiếp nhận để xử lý tại trạm XLNTTT được thể hiện bằng văn bản thỏa thuận giữa chủ đầu tư hạ tầng KCN với nhà đầu tư thứ cấp trong KCN. Tình hình quản lý nước thải KCN Tính đến tháng 8/2016, trong số 216 KCN đã đi vào hoạt động trên phạm vi cả nước, có 189 KCN đã có hệ thống XLNTTT hoàn chỉnh, chiếm 59% tổng số KCN được thành lập và 87,5% số KCN đã đi vào hoạt động.