đặt vấn đề phát triển một cơ cấu không cân đối và mở cửa ra bên ngoài của lý thuyết này là chấp nhận sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế, mà thường thì các quốc gia chậm phát triển chịu nhiều thiệt thòi hơn cho nên lúc đầu lý thuyết này không được các nước đang phát triển theo mô hình CNH hướng nội và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 13 - phát triển cân đối quan tâm, nhưng càng về sau, lý thuyết này càng được thừa nhận rộng rãi, nhất là từ sau sự thành công của các nước CNH mới (NICs). Từ thập niên 1980 trở lại đây, lý thuyết này đã được nhiều nước đang phát triển áp dụng với mô hình CNH mở cửa và hướng ngoại.3 Lý thuyết chuyển dịch CCKT của Moise Syrquin Lịch sử phát triển của kinh tế thế giới đã cho thấy quá trình PT-KT cũng đồng nghĩa với quá trình chuyển dịch CCKT, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến lên một nền kinh tế CNH và dần chuyển sang một nền kinh tế mà trong đó dịch vụ đóng vai trò quan trọng nhất hay còn gọi là một nền kinh tế đã phát triển. Theo Moise Syrquin, chuyển dịch CCKT gồm ba giai đoạn: sản xuất nông nghiệp, CNH, và nền kinh tế phát triển. (i) Giai đoạn sản xuất nông nghiệp (giai đoạn 1): đặc trưng chính là sự thống trị của các hoạt động của khu vực khai thác, đặc biệt là nông nghiệp, như là nguồn lực chính trong việc gia tăng sản lượng của các hàng hóa khả thương.
Mặc dù khu vực khai thác thông thường có TĐ-TT chậm hơn khu vực chế biến nhưng ở mức thu nhập bình quân đầu người thấp, thì sự khác biệt về TĐ-TT đó được bù trừ hoàn toàn bởi nhu cầu hạn chế về các mặt hàng công nghiệp chế biến. Trong giai đoạn này, tốc độ TT-KT chung khá chậm mà một trong những nguyên nhân chính là do tỷ trọng tương đối cao của khu vực nông nghiệp trong tổng giá trị gia tăng (hay GDP). Nếu xét ở mặt cung, thì trong giai đoạn này có những đặc trưng chính là tỷ lệ tích lũy tư bản còn khiêm tốn nên tỷ lệ đầu tư thấp, TĐ-TT cao của lực lượng lao động, và TĐ-TT năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) rất thấp, và nhân tố sau cùng này tác động mạnh đến tốc độ TT-KT chung hơn là yếu tố tỷ lệ đầu tư thấp. (ii) Giai đoạn công nghiệp hóa (giai đoạn 2): có đặc điểm nổi bật là tầm quan trọng trong nền kinh tế đã được chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực chế biến và chỉ tiêu chính để đo lường sự dịch chuyển này là tầm quan trọng của khu vực chế biến trong đóng góp và TT-KT chung ngày càng tăng lên.
Sự dịch chuyển này xuất hiện ở các nước có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn hay thấp hơn, phụ thuộc vào yếu tố nguồn tài nguyên sẵn có cũng như chính sách ngoại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 14 - thương của các nước đó. Xét ở mặt cung, sự đóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tích lũy tư bản vẫn được giữ ở mức cao trong hầu hết giai đoạn này do có sự gia tăng mạnh của tỷ lệ đầu tư. (iii) Giai đoạn nền kinh tế phát triển (giai đoạn 3): sự chuyển tiếp từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3 có thể được hiểu theo nhiều cách. Nếu xét về mặt cầu, thì trong giai đoạn này độ co giãn theo thu nhập của hàng công nghiệp chế biến đã giảm đi; và ở một thời điểm nào đó, tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong cơ cấu nhu cầu nội địa bắt đầu giảm xuống.
Mặc dù xu hướng này có thể bị lấn át ở một giai đoạn nào đó bởi xuất khẩu vẫn tiếp tục gia tăng ở mức cao, nhưng cuối cùng nó đều được phản ảnh qua việc giảm sút tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong cơ cấu GDP hay trong cơ cấu lực lượng lao động. Khu vực dịch vụ trở thành khu vực quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP cũng như cơ cấu lao động. Sự thay đổi này xuất hiện rất rõ ràng ở tất cả các nước công nghiệp phát triển trong suốt 20 năm qua. Ở mặt cung, sự khác biệt chủ yếu giữa giai đoạn CNH và giai đoạn nền kinh tế phát triển là sự suy giảm trong đóng góp vào tăng trưởng của cả hai nhân tố sản xuất tư bản và lao động theo cách tính qui ước.
Ðóng góp vào tăng trưởng của nhân tố tư bản (vốn) giảm xuống bởi cả hai yếu tố TĐ-TT chậm hơn và tỷ trọng ngày càng thấp hơn. Hơn nữa, vì có sự suy giảm trong tốc độ gia tăng dân số, chỉ có một vài nước phát triển là có sự gia tăng đáng kể trong lực lượng lao động. Như vậy, trong giai đoạn này, nhân tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng là nhân tố năng suất các nhân tố tổng hợp. Ở những nước phát triển hơn, tăng trưởng TFP có tác động lan tỏa đến toàn nền kinh tế rộng lớn hơn so với trong giai đoạn CNH.2 Tiếp cận phân tích nguồn lực để xem xét chuyển dịch CCKT 2.1 Mô hình phân tích tác động các nguồn lực đến TT-KT 2.1 Mô hình tăng trưởng GDP và đầu tư Vào những năm 1940s, hai nhà kinh tế Roy Harrod và Evsey Domar đưa ra mối tương quan giữa tăng trưởng GDP và tỷ lệ đầu tư trong nền kinh tế thông qua một chỉ số được kí hiệu là ICOR (Incremental Capital Output Ratio): LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 15 - s g= ICOR Trong đó, g là tăng trưởng GDP; s là tỷ lệ tiết kiệm trong GDP, ở đây luôn giả thiết là tiết kiệm bằng đầu tư; ICOR là chỉ số đo mối liên hệ giữa hai đại lượng trên.
Công thức này cho thấy hệ số ICOR có mối tương quan tỷ lệ nghịch với TĐ- TT kinh tế. Với tỷ lệ đầu tư so với GDP giống nhau, địa phương nào có hệ số ICOR thấp hơn thì sẽ tạo ra một tốc độ TT-KT cao hơn. Do đó, người ta thường sử dụng hệ số này để so sánh sự khác biệt về TĐ-TT giữa các tỉnh, các vùng và giữa các quốc gia với nhau. Như vậy, địa phương có hệ số ICOR càng thấp thì chứng tỏ đầu tư càng hiệu quả.
Một hệ số đầu tư thấp có nghĩa là cần một tỷ lệ đầu tư trong GDP thấp hơn để duy trì cùng một TĐ-TT. Tuy nhiên, theo quy luật về lợi nhuận biên giảm dần, khi nền kinh tế càng phát triển, tức là GDP bình quân đầu người tăng lên, cùng lúc đó hệ số ICOR sẽ gia tăng, lúc này tiền lương sẽ gia tăng cao và nền kinh tế sẽ thâm dụng vốn; nền kinh tế cần một tỷ lệ đầu tư trong GDP cao hơn để duy trì cùng một TĐ-TT. Nếu hệ số ICOR không đổi, tỷ lệ đầu tư cao trong một ngành sẽ thúc đẩy tăng trưởng của ngành đó. Nếu đầu tư vào một ngành nào có hiệu quả sẽ càng thúc đẩy TĐ-TT của ngành đó.
Do vậy, cơ cấu đầu tư sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu của nền kinh tế. Gillis (1992), tăng cường đầu tư là động cơ quan trọng nhất cho sự tăng trưởng của thế giới từ thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, và ông cũng chỉ ra rằng TĐ-TT trong thu nhập chỉ có thể được duy trì trong một thời gian dài chỉ khi xã hội có khả năng duy trì mức đầu tư ở một tỷ lệ đáng kể nào đó so với tổng sản phẩm quốc dân. Như vậy, theo những quan điểm này đã thừa nhận đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với TT-KT, muốn có TT-KT thì phải có đầu tư. Điều này đồng nghĩa với một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao thì phải tập trung vốn thật nhiều cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, đây là một vấn đề mà rất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 16 - nhiều nhà kinh tế đang tranh cãi. Ở phạm vi đề tài này chỉ số ICOR dùng để đánh giá hiệu quả đầu tư ở chương 3 và dự báo vốn đầu tư ở chương 4.2 Mô hình tăng trưởng dựa vào các nguồn lực Phương pháp phổ biến dùng để phân tích các nguồn lực vào tăng trưởng là sử dụng hàm sản xuất. Để đơn giản ta giả định chỉ có hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động. Hàm sản xuất thích hợp nhất ứng dụng phân tích nguồn các nguồn lực tăng trưởng là dạng hàm sản xuất Cobb-Douglas được thể hiện như sau: Y = AK α Lβ (2.1) Trong đó, Y là tổng sản lượng (GDP), K là quy mô vốn sản xuất, L là quy mô lao động, A là năng suất tổng hợp của các nhân tố, α là hệ số co giãn của GDP theo lao động, β là hệ số co giãn của GDP theo vốn.
Trong phân tích kinh tế hiện đại, hệ số A được gọi là năng suất các nhân tố tổng hợp - TFP (Total Factors of Product). Yếu tố này bao gồm yếu tố công nghệ, phương pháp quản lý,… Tốc độ tăng TFP là tỷ lệ gia tăng của kết quả sản xuất do nâng cao năng suất tổng hợp chung. Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng hai nhân tố sản xuất vốn và lao động, là căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng TT- KT, là cơ sở để phân tích hiệu quả sản xuất xã hội, đánh giá tiến bộ khoa học công nghệ, đánh giá trình độ tổ chức và quản lý sản xuất…của mỗi ngành, mỗi địa phương hay mỗi quốc gia.1) hàm sản xuất Cobb-Douglas có thể viết lại dưới dạng tuyến tính như sau: LnY = LnA + α LnK + β LnL (2.2) x =( x )+α( x )+β( x ) Hay: gY = gTFP + α gK + β gL (2.3) Hay: gTFP = gY - (α gK + β gL) (2.4) Trong đó, gY là tốc độ tăng GDP, gK là TĐ-TT của vốn, gL là TĐ-TT của lao động đang làm việc trong nền kinh tế, α và β lần lượt là hệ số đóng góp của vốn và lao động. Các số liệu về tốc độ tăng GDP, vốn, lao động, có thể tìm thấy trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 17 - niên giám thống kê hàng năm, riêng hệ số α và β có được qua chạy mô hình hồi quy, do đó có thể tính được gTFP.
Từ công thức (2.4), khi biết gGDP, αgK và βgL có thể tính được đóng góp của công nghệ và quản lý hoặc ngược lại có thể ước lượng TĐ-TT của GDP. Như vậy để áp dụng quan hệ (2.