Chương 1: Giới thiệu Chương này sẽ giới thiệu tính cấp thiết của đề tài, bối cảnh nghiên cứu đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và bố cục của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương này sẽ trình bày các khái niệm về CBCC; HĐND, cơ cấu tổ chức, hoạt động của HĐND phường; ĐLPS công, các lý thuyết và các nghiên cứu trước, nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng khung phân tích, đề xuất mô hình nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ giới thiệu về phương pháp nghiên cứu như: quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, cách chọn mẫu, xây dựng thang đo cho các biến và phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này sẽ nêu cách thức khảo sát, kết quả thống kê mô tả mẫu, kết quả phân tích các dữ liệu thu thập được từ khảo sát để đưa ra kết quả kiểm định độ tin cậy, kiểm định sự phù hợp của các thang đo, các kết quả đo lường mứu độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ĐLPS công của CBCC. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị giải pháp Chương này sẽ tổng hợp kết luận từ kết quả nghiên cứu, từ đó đưa ra những gợi ý chính sách để góp phần nâng cao ĐLPS công của CBCC HĐND phường các phường của Quận 3; và cuối cùng nêu những đóng góp cũng như những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong Chương 2, tác giả sẽ trình bày các khái niệm về CBCC; HĐND, cơ cấu tổ chức, hoạt động của HĐND phường; ĐLPS công, các lý thuyết và các nghiên cứu trước nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng khung phân tích, đề xuất mô hình nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu. Các khái niệm trong nghiên cứu 2.
Cán bộ công chức Sau nhiều lần sửa đổi, Chính phủ ban hành các Nghị định rồi Pháp lệnh CBCC. Ngày 1/10/2008, Quốc hội chính thức ban hành Luật CBCC (Luật số 22/2008/QH12). Luật đã làm rõ các tiêu chí để phân định một cách tương đối cán bộ với công chức. Theo đó, định nghĩa CBCC quy định rõ tại điều 4, như sau: Cán bộ: “là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”.
Công chức: “Là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) “là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”. Hội đồng nhân dân HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên; Ủy ban nhân dân do HĐND bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND. Đây là sự khẳng định vị trí, tính chất, vai trò của HĐND trong bộ máy Nhà nước.
Theo những quy định của pháp luật hiện hành, vị trí của HĐND được khắc họa ở những khía cạnh sau: HĐND các cấp trong quá trình hình thành và phát triển đã khẳng định được vị trí, vai trò, trách nhiệm là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương. Với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho nhân dân địa phương, HĐND có khả năng đoàn kết tập hợp được quần chúng, thống nhất được ý chí và hành động của quần chúng, động viên được mọi nguồn lực vật chất và tinh thần của mỗi địa phương, góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp cách mạng. HĐND là trung tâm tổ chức việc thực hiện các quyết định của cơ quan Nhà nước cấp trên. Sự hiện diện của Hội đông nhân dân các cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng có vai trò to lớn trong việc hình thành Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, thể hiện được tính giai cấp sâu sắc, tính chất nhân dân thực sự của NN, thể hiện bản chất của Nhà nước Việt Nam, tạo niềm tin vững chắc cho nhân dân về một chính quyền của nhân dân, do nhân, vì nhân dân.
HĐND là cầu nối giữa chính quyền nhân dân và cấp trên với chính quyền địa phương, cơ sở vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất trong hoạt động của bộ máy Nhà nước trên phạm vi toàn quốc, vừa đảm bảo phát huy được nội lực của từng địa phương, cơ sở. Thông qua Quốc hội và HĐND các cấp bằng quyền dân chủ trực tiếp của mình, nhân dân thực hiện được quyền dân chủ trên phạm vi cả nước và trước hết TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 làm chủ ngay tại địa phương, cơ sở. Tóm lại, pháp luật hiện hành quy định HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên. Hiến pháp quy định thẩm quyền rộng rãi cho HĐND, đảm bảo cho HĐND thực sự là cơ quan quyền lực NN ở địa phương, chịu trách nhiệm và toàn quyền quyết định những vấn đề trọng đại ở địa phương trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Các quyết định của HĐND có hiệu lực pháp lý trên lãnh thổ địa phương. Mọi công dân sống trên lãnh thổ địa phương không kể là người thuộc cơ quan Nhà nước ở địa phương hay cơ quan Nhà nước cấp trên đều có trách nhiệm thi hành. Về tính chất, HĐND có hai tính chất giống Quốc hội đó là tính quyền lực và tính đại diện. Tuy nhiên, tính chất của HĐND khác với tính chất của Quốc hội về phạm vi và mức.
độ; ngoài ra , HĐND có tính chất là cơ quan có tính tự quản địa phương và cơ quan có nhiệm vụ “tổ chức thi hành các quyết định của các cơ quan NN cấp trên và chịu trách nhiệm trước các cơ quan Nhà nước cấp trên”. Vì vậy, có thể nhận định tính chất của HĐND ở nước ta như sau: Thứ nhất, HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước địa phương, HĐND được cấu tạo bởi các đại biểu do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, HĐND căn cứ vào pháp luật bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức vụ trong tổ chức của mình (Thường trực HĐND và các bạn của HĐND). HĐND căn cứ vào pháp luật bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh của Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của mình và là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương; bầu, miên nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp. HĐND căn cứ vào Hiến pháp pháp luật ra nghị quyết để triển khai các mặt công tác ở địa phương.
HĐND có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương đồng thời chịu sự giám sát, hướng dẫn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và hướng dẫn, kiểm tra của Chính phủ. Thứ hai, HĐND là cơ quan đại diện của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 ra, đại diện cho nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên. Thứ ba, HĐND là cơ quan quyền lực nhưng tính chất hoạt động của nó lại là cơ quan thi hành pháp luật. Điều này thể hiện qua các mặt: - Trong hoạt động của mình, HĐND chịu trách nhiệm trước cơ quan Nhà nước cấp trên.
- HĐND phải chịu sự chỉ đạo của cơ quan hành chính cấp trên. Pháp luật hiện hành quy định Thủ tướng Chính phủ có quyền đình chỉ việc thi hành các nghị quyết trái pháp luật của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Chủ tịch Uy ban nhân dân có quyền đình chỉ việc thi hành nghị quyết sai trái của HĐND cấp dưới và đề nghị HĐND cấp trên bãi bỏ. Pháp luật còn quy định căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, HĐND ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương. Theo các quy định của pháp luật hiện hành, về hoạt động của mình “HĐND có tính hành pháp”, bởi vì HĐND chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu trách nhiệm trước các cơ quan Nhà nước cấp trên nên có thể xác định HĐND nằm trong hệ thống các cơ quan hành pháp” Thứ tư, trong pháp luật về tổ chức và hoạt động của HĐND, HĐND là cơ quan tự chủ ở địa phương.
Điều này được thể hiện: - HĐND ra nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và ngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân; không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương.