Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Động lực và tạo động lực làm việc 1. Động lực làm việc 1. Khái niệm động lực làm việc Nghiên cứu động lực hoạt động của con người đã được thực hiện từ rất lâu trong lịch sử tâm lý học.
Bằng các cách tiếp cận và nghiên cứu khác nhau, các nhà tâm lý học đã tìm cách lý giải tại sao con người có thể thực hiện được hành vi nào đó, tại sao hoạt động của anh ta có thể kéo dài trong một thời gian nhất định hoặc dừng lại đúng lúc. Theo từ điển Tiếng Việt: “Động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển”. Nhà nghiên cứu Mitchell cho rằng: “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình. Cũng nghiên cứu về động lực, nhà nghiên cứu Bolton đưa ra quan điểm: “Động lực được định nghĩa như một khái niệm để mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu”.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Th.S Nguyễn Vân Điềm - PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [4, tr. Theo giáo trình hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [21, tr. Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể.
Động lực cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố thuộc về con người tức là những yếu tố xuất hiện trong chính bản thân con người thúc đẩy con người làm việc. Những nhân tố thuộc môi trường. Những yếu tố thuộc về nội dung bản chất công việc. Suy cho cùng động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân 10 mỗi người lao động” mà ra.
Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. Động lực lao động không hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân nó có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc.
Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực lao động có thể thay đổi. Động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động, người lao động thường chủ động làm việc hăng say khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. Khi được làm việc một cách chủ động tự nguyện thì họ có thể đạt được hiệu quả công việc tốt nhất. Từ những quan niệm, định nghĩa và phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm động lực làm việc, như sau: Động lực làm việc là những nhân tố bên trong chịu sự tác động của các yếu tố vật chất và tinh thần nhằm thúc đẩy, kích thích con người tự giác, hăng say, nỗ lực làm việc, phát huy mọi khả năng tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Là sự khao khát và tự nguyện nên khiến con người làm việc hăng say, giúp họ phát huy được sức mạnh tiềm tàng bên trong và họ có thể vượt qua được những thách thức, khó khăn để hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Một người có động lực là khi người đó bắt tay vào làm việc mà không cần có một sự cưỡng bức, họ có thể làm được nhiều hơn điều mà tổ chức đặt ra. Do vậy, bí quyết của các nhà lãnh đạo, quản lý là phải tạo ra cho được động lực để nhân viên có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho mục tiêu của tổ chức, đơn vị mình. Biểu hiện của động lực làm việc Qua khái niệm như đã trình bày ở phần trên, đã cho ta thấy động lực làm việc có ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả công việc của người lao động.
Nếu người lao động thiếu động lực sẽ dẫn đến các mục tiêu của nhà lãnh đạo, quản lý không 11 đạt được và ngược lại. Động lực chính là yếu tố bên trong được biểu hiện ra bên ngoài bằng những thái độ và hành động cụ thể, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau. Vì vậy, chúng ta có thể xác định động lực thông qua những biểu hiện, như: sự tự giác, hăng say, nỗ lực làm việc người lao động. Để đánh giá động lực làm việc của người lao động chúng ta có thể đưa ra một số tiêu chí sau đây: - Mức độ tham gia vào công việc của người lao động: + Mức độ tập trung vào công việc, là mức độ “ổn định tập trung” cụ thể, để hoàn thành công việc trong khoản thời gian cố định đã đặt ra.
Khi mức độ tập trung vào công việc cao dẫn đến thời gian hoàn thành công việc nhanh chóng, đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng. + Mức độ hiệu suất sử dụng thời gian làm việc, là phải thực hiện tương ứng với khối lượng công việc được giao để hoàn thành theo quy định. Thời gian làm việc theo quy định là thời gian làm việc tính theo giờ hành chính (8 giờ một ngày) hoặc nhiệm vụ được giao hoàn thành trong thời gian giới hạn cho phép. Hiệu suất sử dụng Thời gian làm việc thực tế Thời gian làm việc Thời gian làm việc quy định + Mức độ kiên trì trước những nhiệm vụ khó khăn, là thái độ nỗ lực, cố gắng không ngừng nghỉ, quyết tâm vượt qua thử thách để hoàn thành công việc được giao cho.
+ Mức độ tham gia vào các hoạt động tập thể của cơ quan, là việc tham gia vào các hoạt động cộng đồng, hoạt động chung của tổ chức như làm việc nhóm, tham gia các hoạt động phong trào xã hội mà cơ quan tổ chức. + Mức độ nỗ lực thực hiện công việc, là chỉ tiêu phản ánh mức độ tích cực, hăng say, nhiệt tình trong thực hiện công việc; phản ánh mức độ tiêu hao sức lực (cả thể lực về trí lực) để hoàn thành công việc được giao. Mức độ nỗ lực thực hiện công việc cao hay thấp còn thể hiện ở cường độ của người lao động trong quá trình thực thi công việc được giao. + Mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, là mức độ hoàn thành công việc được giao là tỷ lệ (%) giữa khối lượng công việc đã hoàn thành và khối lượng công việc được giao trong khoảng thời gian nhất định.
12 Mức độ hoàn thành Khối lượng công việc hoàn thành = công việc được giao Khối lượng công việc được giao - Mức độ quan tâm đến nghề nghiệp + Mức độ lạc quan đối với công việc được giao, là thường xuyên quan tâm, trăn trở đến công việc được giao, thể hiện cả những khó khăn do công việc đặt ra. Chính sự khó khăn mới tạo ra lý thú nên có thể kích thích thêm lòng yêu nghề, khiến cho người lao động hứng thú học hỏi, phát triển kiến thức, kỹ năng. Ngược lại của sự yêu thích công việc được giao là tính miễn cưỡng, làm vì buộc phải làm, sẽ ức chế mọi hoạt động, suy nghĩ, làm cho người lao động chống mệt mỏi dẫn đến kém năng suất và hiệu quả. + Mức độ yên tâm trong công tác, là chỉ tiêu phản ánh mức độ hài lòng, thoả mãn của người lao động với vị trí công việc hiện tại.
Nếu người lao động yên tâm làm việc họ sẽ nhiệt tình, hăng say, tận tuỵ hơn với công việc. Ngược lại, nếu người lao động không yên tâm làm việc thì sẽ giảm dần sự nhiệt tình, hăng say, tận tụy trong công việc. + Mức độ thích ứng với công việc, là việc tạo sự hài lòng của người lao động sẽ ảnh hưởng tích cực đến lòng trung thành với tổ chức và hiệu suất lao động. Người lao động cảm thấy hài lòng với công việc của mình sẽ làm giảm các nguy cơ bất hợp tác, thiếu tích cực trong làm việc.
Vì vậy, các nhà lãnh đạo, quản lý cần đặc biệt quan tâm đến các yếu tố tác động tới sự thích ứng trong công việc của người lao động để họ cảm thấy hài lòng và không nhàm chán với công việc được giao. Các yếu tố ảnh hưởng tới động lực làm việc Ảnh hưởng các yếu tố về cá nhân + Nhu cầu và lợi ích cá nhân: Nhu cầu của mỗi cá nhân không giống nhau và mỗi cá nhân đều có rất nhiều nhu cầu. Các nhu cầu này rất đa dạng và thay đổi liên tục theo thời gian. Con người có thể cùng lúc có nhiều nhu cầu khác nhau và không phải chỉ khi nào thỏa mãn được các nhu cầu bậc thấp con người mới nảy sinh nhu cầu ở bậc cao hơn.
Năng lực cá nhân tác động đến động lực làm việc theo 2 hướng nó có thể làm gia tăng hoặc làm giảm đi động lực làm việc của mỗi cá nhân trong tổ chức. Nếu 13 năng lực của công chức cao hơn nhiều so với đòi hỏi công việc họ nắm giữ sẽ dẫn tới việc công chức nhanh chóng rơi vào trạng thái nhàm chán và thiếu động lực làm việc. Điều này cũng xảy ra tương tự như khi năng lực của công chức thấp hơn yêu cầu của công việc. Vì thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết nên họ thường xuyên gặp khó khăn trong công việc.
Tình trạng này lặp đi, lặp lại hàng ngày làm cho người lao động rơi vào trạng thái mệt mỏi, chán nản không còn động lực làm việc nữa. Tình trạng kinh tế ảnh hưởng nhiều đến nhu cầu làm việc của người lao động và vì vậy, nó ảnh hưởng lớn đến động cơ làm việc của họ. Với những người có điều kiện kinh tế tốt, các nhu cầu bậc cao trở nên nổi trội hơn. Ngược lại, với những người có điều kiện kinh tế khó khăn, cần quan tâm đến các nhu cầu của họ như tiền lương, an toàn công việc.