Luận án tiến sĩ dòng họ và đời sống làng xã ở đồng bằng bắc bộ qua tư liệu một số xã thuộc huyện thạch thất hà tây

Nghiên cứu luận án tiến sĩ về dòng họ và đời sống làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ qua tư liệu xã Thạch Thất, Hà Tây, phân tích sâu sắc văn hóa truyền thống.

Chuyên ngành

Lịch sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2006

152
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG DÒNG HỌ Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

1.1. Khái lược về địa bàn nghiên cứu. Những vấn đề lý luận chung

1.2. Các quan hệ dòng họ ở Thạch Thất - Hà Tây

1.2.1. Quan hệ hôn nhân của dòng họ

1.2.2. Quan hệ xã hội trong dòng họ

1.2.3. Quan hệ kinh tế trong dòng họ

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC CHẤT CỦA KẾT CẤU DÒNG HỌ Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

2.1. Sinh hoạt tinh thần trong dòng họ

2.2. Thực chất của kết cấu dòng họ ở người Việt thuộc Đồng bằng Bắc Bộ

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA DÒNG HỌ TRONG LÀNG XÃ Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

3.1. Trạng thái đổi chỗ để cỏ

3.2. Ảnh hưởng của dòng họ trong đời sống làng xã hiện nay

3.3. Những kiến nghị về ứng xử chính trị - xã hội đối với dòng họ ở nông thôn

3.4. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

Tóm tắt

I. Cách hiểu tổng quan về dòng họ và đời sống làng xã ở Đồng bằng Bắc Bộ

Dòng họ và đời sống làng xã ở Đồng bằng Bắc Bộ là một thiết chế xã hội truyền thống có vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển văn hóa vùng miền. Dòng họ truyền thống không chỉ là tập hợp những người có chung một ông tổ mà còn là một cộng đồng gắn kết bởi các quan hệ huyết thống, tín ngưỡng dân gian và các phong tục tập quán đặc trưng. Trong đời sống làng xã, dòng họ đóng vai trò là một đơn vị cộng cảm, tạo nên sự gắn bó giữa các thành viên, đồng thời là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống như lễ hội làng xã, thờ cúng tổ tiên và quản lý đất đai dòng họ. Ở Đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là vùng Thạch Thất, dòng họ còn thể hiện rõ nét trong các hoạt động sinh hoạt tinh thần và kinh tế, góp phần tạo nên đặc điểm xã hội nông thôn đậm đà bản sắc. Việc nghiên cứu dòng họ trong bối cảnh đời sống làng xã giúp hiểu sâu sắc hơn về mối quan hệ cộng đồng, vai trò của các thiết chế truyền thống trong xã hội hiện đại, cũng như những thách thức và cơ hội trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn.

1.1. Giới thiệu về tổ chức dòng họ và vai trò trong văn hóa Đồng bằng Bắc Bộ

Tổ chức dòng họ ở Đồng bằng Bắc Bộ được hình thành dựa trên nguyên tắc huyết thống theo chế độ phụ hệ, kết hợp với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Dòng họ là nơi lưu giữ gia phả, tổ chức các lễ giỗ chung và các hoạt động cộng đồng, góp phần duy trì truyền thống văn hóa đặc sắc của vùng. Vai trò của dòng họ không chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình mà còn ảnh hưởng đến đời sống xã hội, kinh tế và tinh thần của cộng đồng làng xã.

1.2. Đặc điểm xã hội nông thôn và mối quan hệ cộng đồng làng xã truyền thống

Đời sống làng xã ở Đồng bằng Bắc Bộ mang đậm nét đặc điểm xã hội nông thôn truyền thống với các quan hệ cộng đồng chặt chẽ. Mối quan hệ dòng họ và quan hệ lân cư là hai trụ cột cơ bản tạo nên sự gắn kết xã hội. Các phong tục tập quán, lễ hội làng xã và hệ thống quan lại làng xã đều phản ánh sự phối hợp giữa các thiết chế truyền thống nhằm duy trì trật tự xã hội và phát triển kinh tế địa phương.

II. Hướng dẫn nhận diện các vấn đề và thách thức trong đời sống dòng họ ở Đồng bằng Bắc Bộ

Dòng họ và đời sống làng xã ở Đồng bằng Bắc Bộ đang đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh hiện đại hóa và đô thị hóa. Một số vấn đề nổi bật bao gồm sự mai một của các giá trị truyền thống, sự suy giảm vai trò của dòng họ trong quản lý đất đai và các hoạt động cộng đồng, cũng như những mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ dòng họ do biến đổi kinh tế - xã hội. Ngoài ra, sự phục hồi tự phát của các hoạt động dòng họ cũng đặt ra câu hỏi về sự cân bằng giữa bảo tồn văn hóa và phát triển xã hội hiện đại. Việc nhận diện rõ các vấn đề này là bước đầu quan trọng để đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm phát huy vai trò tích cực của dòng họ trong đời sống làng xã.

2.1. Thách thức từ sự biến đổi kinh tế và xã hội đối với tổ chức dòng họ

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế và xã hội ở các làng xã Đồng bằng Bắc Bộ. Việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất công nghiệp, sự gia tăng dân số và tách hộ đã làm giảm diện tích đất đai do dòng họ quản lý, ảnh hưởng đến vai trò kinh tế của dòng họ. Đồng thời, các mối quan hệ truyền thống bị mai một, làm suy giảm sự gắn kết trong cộng đồng dòng họ.

2.2. Vấn đề mâu thuẫn và biến đổi trong quan hệ dòng họ và cộng đồng làng xã

Quan hệ dòng họ vốn mang tính chất huyết thống và tín ngưỡng sâu sắc, nhưng trong đời sống hiện đại, các mâu thuẫn về quyền lợi, đất đai và vai trò trong cộng đồng ngày càng xuất hiện. Sự biến đổi trong quan hệ này làm cho dòng họ phải thích nghi với các quy định pháp luật và các thiết chế xã hội mới, đồng thời giữ gìn các giá trị truyền thống để duy trì sự ổn định và phát triển bền vững.

III. Phương pháp nghiên cứu và giải pháp bảo tồn văn hóa dòng họ hiệu quả ở Đồng bằng Bắc Bộ

Nghiên cứu dòng họ và đời sống làng xã ở Đồng bằng Bắc Bộ cần áp dụng phương pháp liên ngành, kết hợp nghiên cứu thực địa, phân tích gia phả, phỏng vấn và thống kê xã hội học. Việc bảo tồn và phát huy văn hóa dòng họ đòi hỏi sự phối hợp giữa các cấp chính quyền, cộng đồng dân cư và các nhà khoa học. Các giải pháp bao gồm khôi phục và duy trì các lễ hội làng xã, tổ chức các hoạt động sinh hoạt dòng họ có quy mô, xây dựng hệ thống quản lý đất đai dòng họ phù hợp với pháp luật hiện hành, đồng thời giáo dục thế hệ trẻ về giá trị truyền thống. Sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại sẽ giúp dòng họ tiếp tục phát huy vai trò trong đời sống xã hội.

3.1. Phương pháp nghiên cứu thực địa và phân tích tài liệu gia phả dòng họ

Phương pháp nghiên cứu thực địa bao gồm phỏng vấn cá nhân và nhóm, điều tra theo phiếu hỏi, thu thập và phân tích các tài liệu gia phả, sắc phong, thần phả và bia ký. Việc kết hợp các phương pháp này giúp thu thập dữ liệu đa chiều, phản ánh chính xác thực trạng sinh hoạt dòng họ và đời sống làng xã, từ đó đưa ra các nhận định khoa học và đề xuất giải pháp phù hợp.

3.2. Giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa dòng họ trong bối cảnh hiện đại

Giải pháp bảo tồn văn hóa dòng họ cần tập trung vào việc duy trì các lễ hội làng xã, tổ chức giỗ họ quy mô, khôi phục gia phả và phát triển các câu lạc bộ dòng họ. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế quản lý đất đai dòng họ phù hợp với pháp luật, tăng cường giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động dòng họ nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

IV. Bí quyết ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về dòng họ ở Đồng bằng Bắc Bộ

Các nghiên cứu thực tiễn tại các xã thuộc huyện Thạch Thất, Hà Tây đã cho thấy dòng họ vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và kinh tế của cộng đồng. Việc tổ chức các ngày giỗ chung, lễ hội làng xã và các hoạt động sinh hoạt dòng họ góp phần củng cố mối quan hệ huyết thống và cộng đồng. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự đa dạng trong tổ chức và hoạt động của các dòng họ, từ các họ lớn có nhiều thành viên đến các họ nhỏ với sinh hoạt đơn giản hơn. Những kinh nghiệm này là cơ sở để xây dựng các mô hình bảo tồn và phát huy văn hóa dòng họ phù hợp với từng địa phương, góp phần phát triển bền vững đời sống làng xã ở Đồng bằng Bắc Bộ.

4.1. Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong quản lý và phát triển cộng đồng dòng họ

Kết quả nghiên cứu giúp các cấp chính quyền và cộng đồng hiểu rõ hơn về vai trò và thực trạng dòng họ, từ đó xây dựng các chính sách quản lý đất đai, tổ chức lễ hội và hỗ trợ sinh hoạt dòng họ phù hợp. Việc áp dụng các mô hình quản lý câu đương, tổ chức giỗ họ và phát triển các hoạt động văn hóa truyền thống đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và phát huy giá trị văn hóa dòng họ.

4.2. Kết quả thực tiễn từ các xã nghiên cứu tại huyện Thạch Thất Hà Tây

Tại các xã như Hữu Bằng, Lại Thượng, Hương Ngải và Đại Đồng, dòng họ vẫn duy trì các hoạt động giỗ tổ, lễ hội và quản lý đất đai truyền thống. Các họ lớn có tổ chức câu đương thường xuyên, đảm bảo việc duy trì các phong tục tập quán và sinh hoạt cộng đồng. Sự phục hồi và phát triển các hoạt động dòng họ đã góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa, đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế và ổn định xã hội địa phương.

V. Phương pháp quản lý đất đai dòng họ và vai trò trong đời sống làng xã hiện đại

Quản lý đất đai dòng họ là một trong những vấn đề then chốt ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội ở nông thôn Đồng bằng Bắc Bộ. Truyền thống quản lý đất đai theo họ đã tạo ra nguồn lực kinh tế quan trọng cho các dòng họ, đồng thời góp phần duy trì các giá trị văn hóa và tín ngưỡng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện đại, việc quản lý này cần được điều chỉnh phù hợp với pháp luật đất đai và các quy định của nhà nước. Các phương pháp quản lý hiện đại kết hợp với truyền thống sẽ giúp dòng họ phát huy vai trò tích cực, đồng thời hạn chế các mâu thuẫn và tranh chấp đất đai trong cộng đồng.

5.1. Tổ chức quản lý đất đai dòng họ truyền thống và những biến đổi hiện nay

Truyền thống quản lý đất đai dòng họ dựa trên nguyên tắc sở hữu chung và phân chia hoa lợi cho các thành viên. Các họ lớn thường có ruộng hương hỏa để duy trì hoạt động thờ cúng tổ tiên. Tuy nhiên, hiện nay do sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế và pháp luật đất đai, nhiều dòng họ đã phải điều chỉnh phương thức quản lý, chuyển sang hình thức đấu thầu hoặc giao khoán nhằm phù hợp với thực tiễn và pháp luật.

5.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đất đai dòng họ trong bối cảnh hiện đại

Giải pháp bao gồm việc xây dựng quy chế quản lý đất đai dòng họ minh bạch, phù hợp với pháp luật, đồng thời tăng cường vai trò của các ban liên lạc dòng họ trong việc giám sát và điều phối sử dụng đất. Ngoài ra, cần tổ chức các lớp tập huấn, nâng cao nhận thức cho các thành viên dòng họ về quyền và nghĩa vụ trong quản lý đất đai, góp phần hạn chế tranh chấp và phát huy hiệu quả sử dụng tài nguyên đất.

VI. Kết luận và triển vọng phát triển dòng họ trong đời sống làng xã Đồng bằng Bắc Bộ

Dòng họ và đời sống làng xã ở Đồng bằng Bắc Bộ là một thiết chế xã hội có giá trị lịch sử và văn hóa sâu sắc, góp phần quan trọng vào sự trường tồn của cộng đồng dân cư. Mặc dù đối mặt với nhiều thách thức do biến đổi kinh tế - xã hội, dòng họ vẫn giữ được sức sống bền bỉ và có xu hướng phục hồi mạnh mẽ trong thời kỳ đổi mới. Triển vọng phát triển dòng họ trong tương lai phụ thuộc vào khả năng kết hợp hài hòa giữa bảo tồn các giá trị truyền thống và thích ứng với các yêu cầu của xã hội hiện đại. Việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa dòng họ sẽ góp phần xây dựng nông thôn mới, phát triển bền vững và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

6.1. Tổng kết vai trò và giá trị của dòng họ trong đời sống xã hội hiện đại

Dòng họ không chỉ là đơn vị huyết thống mà còn là thiết chế văn hóa, xã hội quan trọng trong đời sống làng xã. Vai trò của dòng họ trong việc duy trì các phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian và quản lý tài sản chung góp phần tạo nên sự ổn định và phát triển cộng đồng. Trong xã hội hiện đại, dòng họ cần được nhìn nhận như một nguồn lực văn hóa và xã hội để phát huy hiệu quả.

6.2. Đề xuất hướng phát triển bền vững dòng họ và đời sống làng xã ở Đồng bằng Bắc Bộ

Đề xuất phát triển dòng họ cần tập trung vào việc xây dựng chính sách hỗ trợ bảo tồn văn hóa, phát triển các hoạt động sinh hoạt dòng họ có quy mô, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị truyền thống. Cần thúc đẩy sự phối hợp giữa các cấp chính quyền, nhà nghiên cứu và cộng đồng dân cư để xây dựng mô hình dòng họ phù hợp với bối cảnh hiện đại, góp phần phát triển bền vững đời sống làng xã và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I THỰC TRẠNG DÕNG HỌ Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 1. KHÁI LƢỢC VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU Thạch Thất là một vùng đất Việt cổ, nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội chừng 40 km. Về mặt địa lý tự nhiên, Thạch Thất là vùng bán sơn địa, nơi chuyển tiếp giữa vùng núi phía Tây Bắc (Hòa Bình) với Đồng bằng Bắc bộ. Sông Tích chảy qua huyện theo hướng Tây Bắc - Đông Nam chia huyện thành hai vùng có cấu tạo địa chất, địa tầng khác nhau.

Theo các nhà địa chất, có hai quá trình địa chất xảy ra mạnh mẽ và gần đây nhất, quyết định tới địa hình, địa chất hiện nay của huyện Thạch Thất: Lần thứ nhất thuộc hệ trầm tích Meogen cách đây 30 triệu năm, và lần thứ hai là Kỷ Tân sinh, cách đây chừng hai triệu năm. Tài nguyên Thạch Thất nghèo, chỉ có đá ong, than bùn và vàng cám ở phía Tây huyện với phẩm vị thấp. Hai vùng địa chất được phân chia ra khá rõ rệt là vùng gò đồi ở phía tây huyện gồm các xã: Cẩm Yên, Lại Thượng, Bình Yên, Tân Xã, Cần Kiệm, Kim Quan, Hạ Bằng, Đông Trúc, Thạch Hòa và vùng đồng bằng phù sa chiếm 36% diện tích huyện, gồm các xã Phùng Xá, Bình Phú, Hữu Bằng, Thạch Xá, Chàng Sơn, Canh Nậu, Dị Nậu, Hương Ngải, Liên Quan, Phú Kim, Đại Đồng (Xin xem bảng 1). Căn cứ vào những tài liệu khảo cổ học, các nhà khoa học khẳng định rằng, trên địa bàn huyện Thạch Thất từ cách đây 4 nghìn năm đã có những cộng đồng người Việt cổ sinh sống, trước hết là ở những vùng cao như dãy núi Vua Bà, Đồng Bãi và vùng gò cao ở Thạch Hòa ngày nay.

Có thể họ là những cư dân của nền văn hóa Hòa Bình tràn xuống vùng này, chủ nhân của nền văn hóa trước núi, theo khái niệm công tác của GS. Trần Quốc Vượng. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các kết quả nghiên cứu về thời đại Hùng Vương cũng có những kết luận phù hợp với nhận định này: “Vào thiên niên kỷ thứ II Tr. CN (cách chúng ta 4 nghìn năm) có những nhóm tộc người cư trú ở vùng trung du và những vùng đất cao ven rìa phía Bắc của Đồng bằng Bắc bộ, đó là các vùng đất thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Bắc.

Bảng số 1: Phân bố đất từng xã ở huyện Thạch Thất - Hà Tây (2004) (Nguồn: Phòng Thống kê huyện Thạch Thất - Số liệu năm 2004) DT DT DT DT DT nƣớc Đất chƣa Tên xã tự nhiên N/nghiệp Thổ cƣ L/nghiệp thủy sản sử dụng Chàng Sơn 259,88 196,05 19,75 4,85 413 Lại Thượng 813,31 504,81 83,13 25,29 11,59 Hữu Bằng 178,40 124,96 30,82 7,83 Bình Phú 471,53 335,63 27,00 3,7 38,07 Cần Kiệm 624,97 403,16 67,03 57,07 0,89 66,32 Thạch Xá 321,92 220,77 27,38 5,73 15,24 Hạ Bằng 571,25 397,24 39,88 5,40 50,02 Phú Kim 597,99 377,70 57,45 5,00 15,48 92,45 Tân Xá 704,50 348,07 26,21 125,90 19,43 24,06 Đồng Trúc 568,68 378,06 29,78 2,84 11,28 60,39 Đại Đồng 502,95 390,57 45,58 10,13 Dị Nậu 306,82 227,13 22,53 2,95 Liên Quan 291,10 182,99 27,25 9,24 19,12 Bình Yên 1067,28 494,81 46,95 272,82 11,27 166,38 Cẩm Yên 392,48 224,93 25,39 7,72 5,93 76,54 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hương Ngải 446,31 350,24 37,69 13,80 12,92 Theo bản thảo địa chí Thạch Thất do Ban tuyên giáo huyện đang biên soạn, khoảng 500 năm Tr. CN, địa bàn cư trú của cư dân Thạch Thất vẫn chủ yếu là những vùng đất cao, và bắt đầu phát triển ra khu vực các xã Hạ Bằng, Đồng Trúc, Lại Thượng… rồi sau đó mới tụ cư ở vùng đồng bằng, mà gọi theo người Thạch Thất là vùng nông giang. Ở khu vực này đất đai phì nhiêu, màu mỡ, rất thuận lợi cho việc trồng lúa nước. Cho đến đầu thế kỷ thứ VI thì cư dân ở Thạch Thất đã khá đông đúc.

Theo thống kê của huyện năm 1999, Thạch Thất có 140.529 nhân khẩu, với 31.851 hộ gia đình được phân bố ở 20 xã, thị trấn như sau (Xin xem bảng số 2) Rõ ràng là Thạch Thất là một trong những vùng đất cổ của người Việt, là một vùng đất văn vật với di tích văn hóa nổi tiếng cả nước là chùa Tây Phương, và cũng giáp giới với chùa Thầy. Do đó, chắc chắn việc tụ cư ở vùng này đã có từ trước Công nguyên. Tuy nhiên, do nhiều biến cố lịch sử, các làng xã ở vùng này chỉ ghi nhận được lịch sử của mình muộn hơn, và chủ yếu là qua thần tích của đình chùa. Ví dụ thần tích làng Hương Ngải nhận rằng lập làng là ba anh em họ Chu, được Hán Hiếu đế phong quan chức và Hương Ngải là một trong năm hành cung của họ (cùng với Đại Đồng, Đình Vồi, Kim Quan (Liên Quan).

Làng Hữu Bằng qua thần phả đình làng có lịch sử trên dưới 900 năm, từ Trại Ba nhà đến Trại Bông, Nủa Chợ đến Hữu Bằng trang. Các làng Chàng Sơn, Bùng (Nủa bừa) cũng chỉ ghi nhận được lịch sử làng mình từ thời Lý. Từ xưa đến nay, phần lớn các làng xã của Thạch Thất vẫn chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng nước. Đồng đất vùng này rất phì nhiêu, người dân nổi tiếng là cần cù, ham việc, có gan làm giàu, có chí khí và có bản lĩnh, sẵn sàng đi làm ăn ở bất cứ nơi nào.

Cũng từ lâu đời, nhiều nghề thủ công đã ra đời và phát triển, như nghề rèn ở Phùng Xá, nghề dệt vải, nhuộm vải, kéo sợi ở Hữu Bằng, nghề mộc và đan lát ở Chàng Sơn. trong đó nổi tiếng nhất là làng Hữu Bằng với cái chợ khá to, được coi như trung tâm thương mại của cả vùng, đến 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mức chính làng này có cái tên là Nủa Chợ. Truyền thống này của Hữu Bằng ngày càng được phát huy. Bảng số 2: Số nhân khẩu và số hộ các xã của huyện Thạch Thất - Hà Tây (2005) (Nguồn: Phòng thống kê huyện Thạch Thất - Hà Tây số liệu năm 2005) Lao động Tên xã, Nhân Mật độ Tỷ lệ TT Số hộ Tổng TTCN thị trấn khẩu DS/km2 tăng DS NN số D.vụ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 1 Liên Quan 1086 5376 1827 139 1810 1681 129 2 Đại Đồng 1965 8809 1589 174 424 3768 256 3 Cẩm Yên 843 4236 1007 154 1610 1580 30 4 Lại Thượng 1687 8068 457 178 3567 3485 82 5 Phú Kim 1855 8620 1381 167 3702 3591 111 6 Hương Ngải 1861 7390 1632 169 3655 3585 70 7 Canh Nậu 2266 11854 2310 221 4625 4499 126 8 Dị Nậu 1208 6273 1857 221 2399 2352 47 9 Bình Yên 1797 8454 685 139 3404 3064 340 10 Kim Quan 1452 6626 1358 151 2894 2806 88 11 Chàng Sơn 1591 8018 2692 226 1719 2583 1866 12 Thạch Xá 1211 5717 1666 177 2570 2476 94 13 Hữu Bằng 2564 13481 6749 206 3614 1682 1932 14 Phùng Xá 2075 9814 182 197 1817 318 3499 15 Tân Xá 730 3892 552 129 1727 1712 15 16 Cần Kiệm 1591 7813 1118 158 3414 3170 244 17 Bình Phú 1734 8621 1620 205 4060 3282 778 18 Hạ Bằng 1161 5697 920 187 2611 2537 74 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 Đồng Trúc 1006 5573 956 125 2065 2008 57 20 Thạch Hòa 1834 7978 422 236 2169 2049 120 Tổng cộng 31851 152230 1143 1,43 63486 52528 10958 Kể từ thời kỳ đổi mới, bộ mặt nông thôn Thạch Thất có những đổi thay rất quan trọng.

Giao thông nông thôn khá phát triển, nhà ở của dân được xây cất khá tốt, ở những xã phát triển như Hữu Bằng, Phùng Xá, nhà cửa gia đình không kém gì thành phố, với công trình phụ khép kín, thậm chí hiện đại. Nhưng quan trọng hơn là cơ cấu kinh tế bắt đầu có thay đổi, dù là rất không đều, tức là nổi bật vẫn là các làng xã có truyền thống tiếp cận thị trường (Xin xem bảng số 3). Nhìn vào bảng số 3, chúng ta nhận thấy trừ xã Phú Kim, còn lại một thị trấn huyện (Liên Quan) và 18 xã khác đất nông nghiệp trồng lúa trong một năm đã giảm từ thấp nhất là 1ha (Hương Ngải) đến cao nhất là 36 ha (Hữu Bằng). Có hai lý do cơ bản giải thích hiện tượng này.

Thứ nhất là quá trình tăng dân số và tách hộ, và thứ hai là chuyển đất nông nghiệp sang làm đất công nghiệp, điển hình lại vẫn là xã Hữu Bằng. Tình hình này phù hợp với sự ra đời của hàng loạt các doanh nghiệp, từ doanh nghiệp tư nhân tới công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Hai bảng 3 và 4 phản ánh phần nào những biến đổi về cơ cấu kinh tế ở các xã trong huyện Thạch Thất. Trong khi phần lớn các xã trong huyện vẫn còn được coi là xã thuần nông như Hương Ngải, Đại Đồng, Phú Kim, Dị Nậu, Hạ Bằng, Đồng Trúc, Lại Thượng.

thì một số xã đã phát triển các ngành nghề thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp, đất nông nghiệp bị thu hẹp lại nhiều, điển hình là Chàng Sơn, Phùng Xá, và nhất là Hữu Bằng. Năm 2003, trong khi diện tích cấy lúa của Đại Đồng là 730 ha, đạt sản lượng 4. 600 tấn thóc với số dân là 8. thì Hữu Bằng chỉ còn 181 ha đất cấy lúa, sản lượng chỉ còn 963 tấn, thấp nhất huyện, mà dân số thì đông nhất huyện với 13.

Tuy nhiên, trong khi Hữu Bằng có 35 công ty trách nhiệm hữu hạn thì Đại Đồng chỉ có 3. Về mặt ngành nghề, các làng tiểu thủ công nghiệp vừa 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát huy nghề truyền thống, vừa hình thành khuynh hướng tập trung vào một số ngành nghề. Ở xã Phùng Xá, tỷ lệ cơ sở kinh doanh ngành nghề có liên quan đến kim khí là 15 trên 35, tức 43% trong tổng số cơ sở kinh doanh, ở Chàng Sơn, các cơ sở kinh doanh chế biến sản xuất đồ mộc là 13 trên tổng số 15 doanh nghiệp, tức 86%. Hữu Bằng vốn rất linh hoạt trong làm ăn, vừa có số cơ sở kinh doanh đông nhất, vừa phong phú nhất về ngành nghề, vừa rất linh hoạt trong chuyển đổi nghề kinh doanh.

Hiện Hữu Bằng có 19 cơ sở kinh doanh chế biến gỗ, 3 cơ sở kinh doanh may mặc và các ngành nghề khác như xây dựng, điện tử, trang trí nội thất, phụ tùng ô tô. Bảng số 3: Diện tích - năng xuất - sản lƣợng lúa cả năm 2003 của các xã thuộc huyện Thạch Thất - Hà Tây. (Nguồn: Phòng thống kê huyện Thạch Thất - Hà Tây số liệu năm 2004) Năng suất Diện tích Sản xuất (tấn) Số (tạ/ha) Tên xã, thị trấn TT Năm.139 14 Lại Thượng 716 711 52,47 49,04 3.975 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Bình Yên 494,5 460 46,37 51,48 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ