đặt vấn đề mới xuất phát từ những nhu cầu được thức tỉnh từ chính họ. Tính bền vững của các hoạt động phát triển cần phải có những nguyên tắc làm việc mới, những phương pháp mới đáp ứng những đòi hỏi 1 ở cấp độ phát triển cộng đồng, khái niệm phát triển được thao tác hoá bằng một loạt các chỉ báo đo như: (1) Các nhóm thiệt thòi có thể cải thiện điều kiện sống và thoả mãn các nhu cầu cơ bản như việc làm, nhà ở, có khả năng trả các phí dịch vụ xã hội cơ bản như học hành, chữa bệnh; (2) Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng; (3) Tăng quyền lực của người dân trong các quyết định của cộng đồng; (4) Giảm nghèo, giảm thất nghiệp, quyền con người và công bằng xã hội được củng cố (UN Centre for Regional Development. 1988) 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của thực tiễn cuộc sống. Quá trình xác định nhu cầu, lập kế hoạch can thiệp đã dựa trên một tư duy mới là: thay vì bên ngoài làm hộ, người dân ở mỗi cộng đồng phải tự mình đứng ra giải quyết những vấn đề của riêng mình, sự giúp đỡ của bên ngoài chỉ có tính chất hỗ trợ, không mang tính quyết định.
Thiếu hụt sự hưởng ứng, ý chí và nỗ lực của nhân dân là một trong những nguyên nhân cho sự thất bại của nhiều chương trình phát triển cộng đồng. Ngoài nguyên nhân là quá chú trọng các biện pháp hỗ trợ mang tính cấp cứu, từ thiện hơn là các biện pháp hỗ trợ phát triển, tính bền vững của các chương trình không được duy trì sau khi các dự án rút đi là do cách đặt vấn đề có tính áp đặt từ trên xuống (Top down), thay vì cần có một cách đặt vấn đề từ dưới lên (Bottom up). Về mặt tư tưởng, thói quen tư duy và phương pháp làm việc, cách làm việc mới này vẫn còn khá xa lạ với cách nghĩ, cách làm mệnh lệnh, mang tính áp đặt từ trên xuống, bên dưới chỉ có một cách thực hiện chúng. Phát triển cộng đồng khuyến khích sáng kiến từ dưới lên, với sự kết hợp với chính người dân để giải quyết vấn đề của cộng đồng.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt. Nhiều hình thức hợp tác tự nguyện mới như các tổ liên kết ở nông thôn, các hợp tác xã ngành nghề, buôn bán ở thành thị là dấu hiệu rất tích cực cho giai đoạn phát triển mới. Nhiều mô hình do người dân địa phương tự liên kết để giải quyết nhu cầu của mình hay tham gia vào các chương trình từ bên ngoài đưa vào, một số mô hình đã chứng minh tính hiệu quả của nó. Truyền thống “tình làng nghĩa xóm, tương thân tương trợ, lá lành đùm lá rách" cũng là những cơ sở xã hội-lịch sử quan trọng cho các hoạt động này.
Cơ cấu tổ chức trên địa bàn cơ sở cũng là một thuận lợi cho vận động quần chúng. Hệ thống tổ dân phố, thôn (ấp) tuy còn rơi vào các hoạt động quan liêu nhưng là đơn vị tập hợp, liên lạc thông tin rất thuận lợi. Các tổ 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chức chính trị xã hội như phụ nữ, đoàn thành niên, nông dân, cựu chiến binh, chữ thập đỏ. có mạng lưới rộng khắp và chân rết tại cơ sở.
Đây là cơ chế tổ chức tốt để chuyển tải các chính sách chủ trương từ trên xuống cũng như phản ánh tâm tư nguyện vọng của người dân từ dưới lên. Thoát khỏi sự “cương cứng” trong những năm bao cấp, các đoàn thể này đã đa dạng hoá các hoạt động để hướng về phúc lợi xã hội, kinh tế gia đình chăm sóc sức khoẻ, tín dụng tiết kiệm, xúc tiến việc làm, xoá đói giảm nghèo. rất gần gũi với phát triển cộng đồng. Vấn đề đặt ra là nếu áp dụng đúng phương pháp phát triển cộng đồng các hoạt động xã hội tại cộng đồng sẽ có hiệu quả hơn nhiều.
Với gần 80% dân cư sống ở nông thôn, đất nước không thể đi lên với một nông thôn nghèo nàn lạc hậu. Phát triển cộng đồng ở nước ta gắn chặt với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Gần đây, các Chỉ thị, Nghị quyết của Nhà nước đã nhấn mạnh đến phát triển nông thôn toàn diện, bởi nông thôn không thể thoát khỏi nghèo đói để vươn lên nếu không có những hoạt động đồng bộ về văn hóa, giáo dục, xã hội, sức khoẻ bên cạnh chương trình kinh tế. Đối tượng của các chương trình lớn kể trên đều là người nghèo thất học, người nghèo.
Cần phát huy hơn nữa tính chủ động của quần chúng bằng cách không chỉ dạy chữ, dạy nghề mà còn giúp cho người dân khả năng phân tích tình hình, giác ngộ về hoàn cảnh của mình, kỹ năng tổ chức để tự quản và đi lên bằng chính sức của mình. Phát triển cộng đồng là ngành khoa học đáp ứng yêu cầu này. Các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, xoá đói giảm nghèo là những ví dụ điển hình của cách làm này. Sự tự nguyện mới có thể khắc phục được tình trạng nghèo, bệnh tật và thất học bằng nỗ lực của toàn cộng đồng.
Sự biến chuyển chỉ có nhờ thay đổi phương pháp luận và phương pháp tiến hành cụ thể. 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhu cầu từ thực tiễn đặt ra là cần phải có quan điểm và phương pháp vận động và tổ chức quần chúng, những phẩm chất của các nhà hoạt động xã hội cho mỗi cán bộ làm công tác phát triển cộng đồng. Phát triển cộng đồng sẽ đóng góp tích cực cho giai đoạn phát triển mới, là tinh thần và kỹ năng hợp tác, kiến thức, kỹ năng tổ chức, quản lý. Đặc biệt, với triết lý tham dự, các hoạt động phát triển cộng đồng đã có một hướng phát triển mới, nhấn mạnh đến việc thu hút người dân vào các hoạt động phát triển.
Bảo tồn di sản có sự tham dự của cộng đồng: Trong lĩnh vực văn hóa, lý thuyết phát triển cộng đồng được thấm sâu và thực hành một cách sâu rộng trong các vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong đời sống đương đại. Các lý thuyết mới trong nhân học hiện đại, đặc biệt là lý thuyết tương đối văn hóa đã góp phần vào quá trình này. Trên thế giới hiện nay, khái niệm di sản thế giới là di chỉ hay di tích của một quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố. do các nước có tham gia Công ước di sản thế giới đề cử cho Chương trình quốc tế Di sản thế giới, được công nhận và quản lý bởi UNESCO.
Chương trình Di sản thế giới sẽ lập danh mục, đặt tên và bảo tồn những vị trí nổi bật về văn hóa hay đặc điểm tự nhiên cho di sản nhân loại chung theo Công ước di sản thế giới, được Đại hội đồng UNESCO chấp nhận ngày 16 tháng 11 năm 1972. Nhằm bảo vệ các di sản văn hóa ngày càng có nguy cơ xâm phạm, năm 2001, Luật Di sản Văn hóa được Quốc hội thông qua, gồm 74 điều quy định về bảo vệ các di sản văn hóa ở Việt Nam. Luật này được sửa đổi năm 2009, bổ sung thêm những điều luật mới. Luật quy định về các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hoá.
Luật áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam; trong 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường hợp điều ước quốc tế mà nước ta ký kết hoặc tham gia có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế [27, tr 5]. Như vậy, cho đến nay, Việt Nam đã ký kết các công ước liên quan đến bảo vệ di sản văn hóa, đồng thời nhà nước cũng hết sức quan tâm đến di sản văn hóa dân tộc. Điều đó chứng tỏ, di sản có vị trí quan trọng trong chiến lược củng cố, phát huy giá trị vật thể và phi vật thể đối với thế hệ mai sau của đất nước. Ở Việt Nam hiện nay, di sản văn hóa được chia làm 3 loại, trong đó có di sản văn hóa phi vật thể, di sản văn hóa vật thể và báu vật nhân văn sống.
- Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. - Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, gồm di tích lịch sử-văn hoá, danh thắng, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. - Báu vật nhân văn sống là những người có tài năng xuất sắc, thể hiện ở kiến thức mà nghệ nhân nắm giữ, như các bài bản hay trình độ kỹ thuật mà họ thể hiện, có vai trò xứng đáng với cộng đồng, có sự cống hiến, tham gia vào đời sống văn hóa cộng đồng. Bảo tồn di sản văn hóa hiện nay đã được các học giả hết sức quan tâm và có những công trình đã trình bày về những vấn đề lý luận này.
Những tri thức này hiện nay rất phổ biến trong giới nghiên cứu văn hóa, thậm chí ở 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu sâu về vấn đề lý luận này. Ashworth, một học giả có uy tín hiện nay, đã tổng kết từ thực tế bảo tồn di sản ở nhiều nước trên thế giới thành ba quan điểm và tương ứng với nó là ba mô hình bảo tồn di sản [28, tr 32]: Bảo tồn y nguyên: Đây là quan điểm dựa trên quan điểm bảo tồn văn hóa vật thể của các nhà bảo tàng học. Quan điểm này cho rằng, các sản phẩm của quá khứ cần được bảo tồn nguyên dạng như nó vốn có. Quan điểm này phát triển từ năm 1850 và thịnh hành một thời gian dài.
Các nhà bảo tàng học nước ta cũng chịu ảnh hưởng khá mạnh bởi quan điểm này.