Chương I TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC 1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Dân tộc là vấn đề rất phức tạp và nhạy cảm trong đời sống con người, dân tộc, quốc gia, quốc tế. Vấn đề dân tộc bao giờ cũng gắn chặt với tình hình chính trị của quốc gia, liên quan đến sự tồn tại, ổn định và phát triển cũng như sự sụp đổ của quốc gia. Chừng nào dân tộc còn tồn tại, vấn đề dân tộc còn là vấn đề thời sự của quốc gia.
Đối với các quốc gia đa dân tộc, thì vấn đề dân tộc lại càng đặc biệt phức tạp. Những cuộc xung đột dân tộc dưới các hình thức và mức độ khác nhau trong thời gian qua và hiện nay ở khắp các châu lục đã chứng minh điều đó. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, ". với sự tác động ngày càng tăng của yếu tố tộc người vào đời sống các dân tộc, số lượng và cường độ các cuộc đụng độ giữa các dân tộc ngày càng tăng ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới.
Trong số 120 cuộc xung đột vũ trang trên thế giới từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay có tới 86 cuộc tức là 72% mang tính chất tộc người. Tình hình xung đột giữa các tộc người do mâu thuẫn tộc người dữ dội đến mức có người cho đó là cuộc chiến tranh thế giới thứ ba không trông thấy. Vậy dân tộc là gì? Tại sao vấn đề dân tộc lại có tầm quan trọng như vậy đối với sự tồn tại, ổn định, phát triển cũng như sự sụp đổ của quốc gia nói chung và đối với Việt Nam nói riêng? Theo Stalin, trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc, thì khái niệm dân tộc được hiểu là: " Dân tộc là một khối người cộng đồng ổn định, thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hoá " [13]. Từ trước tới nay, xung quanh nhận thức về dân tộc học, trên thế giới và trong nước ta, có hai loại ý kiến khác nhau: một ý kiến dựa chắc vào định nghĩa của Stalin; ý kiến khác vượt ra khỏi sự ràng buộc của định nghĩa nói trên và đề ra kiến giải mới một cách độc lập và sáng tạo.
Bốn đặc trưng trong định nghĩa dân tộc của Stalin, tuy chưa hoàn toàn lỗi thời, nhưng cũng đòi hỏi phải có sự chỉnh lý. Đặc trưng về ngôn ngữ đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị; đặc trưng về lãnh thổ: lúc mới đầu hình thành dân tộc thì đặc trưng này là điều kiện bắt buộc, nhưng về sau, khi dân tộc bị xé lẻ, phân tán đi nhiều nơi, thì không còn là đặc trưng bắt buộc (trường hợp dân tộc Do Thái); đặc trưng về kinh tế thị trường chung có thể thay bằng đặc trưng về lợi ích chung (lợi ích kinh tế, chính trị.); đặc trưng về văn hoá là cần thiết nhưng nếu chỉ giới hạn trong khuôn khổ tâm lý thì quá hạn hẹp. Nên chăng, mở rộng ra thành đặc tính dân tộc. Về phong tục tập quán, mặc dù quan trọng, nhưng không nên tách ra thành một đặc trưng riêng, mà nên đặt nó trong nội dung đặc trưng văn hoá là hợp lý.
Như vậy, dân tộc cần được hiểu là: - " Dân tộc - quốc gia, quốc tộc dưới các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau (từ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, đến tư sản và xã hội chủ nghĩa), chỉ tất cả các dân tộc: đa số và thiểu số, nằm trong một quốc gia (đối với quốc gia đa dân tộc) như Việt Nam, Nga, Mỹ, ấn độ. , hoặc để chỉ dân tộc nằm trong một quốc gia đơn nhất thành phần dân tộc như dân tộc Triều tiên. - Dân tộc chưa đạt trình độ hình thành quốc gia; - Dân tộc đa số trong một quốc gia đa dân tộc; - Dân tộc thiểu số trong một quốc gia đa dân tộc" [11-11. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Tuy vẫn còn ý kiến khác nhau cần làm sáng tỏ hơn nữa, nhưng đa số ý kiến thống nhất nhận định về cơ bản khái niệm dân tộc là để chỉ các dân tộc đa số và thiểu số cùng nằm trong một quốc gia hoặc để chỉ dân tộc trong một quốc gia đơn nhất thành phần dân tộc.
Khái niệm dân tộc của Việt nam, được hiểu, theo truyền thống, là một quốc gia gồm tất cả các dân tộc, có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt nguồn gốc, sống đoàn kết, thống nhất trên lãnh thổ Việt nam. Dân tộc Việt Nam hoặc cộng đồng các dân tộc Việt Nam được dùng để chỉ tất cả các dân tộc (gồm dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số) cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Khái niệm này đồng nghĩa với quốc gia đa dân tộc hay còn gọi là quốc gia - dân tộc. Trong một quốc gia đa dân tộc, cộng đồng người đa số gọi là dân tộc đa số, các cộng đồng người thiểu số gọi là các dân tộc thiểu số.
Như vậy, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, thống nhất, gọi chung là dân tộc Việt Nam, gồm 54 dân tộc anh em, trong đó người Kinh là dân tộc đa số, còn lại là các dân tộc thiểu số. Dân tộc đa số là dân tộc có số người đông nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số người ít hơn so với dân tộc đa số. Cần nhấn mạnh rằng, thuật ngữ dân tộc thiểu số không đồng nghĩa với dân tộc chậm phát triển, càng không đồng nghĩa với dân tộc lạc hậu.
Hiện nay các nước trên thế giới phần lớn là quốc gia đa dân tộc. Như trên đã phân tích, vấn đề dân tộc trong một quốc gia là một vấn đề phức tạp, có tính nóng bỏng đòi hỏi phải giải quyết lâu dài. Trong một quốc gia đa dân tộc, việc giải quyết không đúng đắn mối quan hệ giữa các dân tộc là nguyên nhân dẫn đến các cuộc xung đột dân tộc. Các cuộc xung đột dân tộc xẩy ra ".
là hệ quả lôgic của sự thức tỉnh ý thức dân tộc. Với sự TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hình thành và phát triển của ba dòng thác cách mạng, với sự trỗi dậy của phong trào giải phóng dân tộc thì ý thức dân tộc cũng được thức tỉnh. Trong báo cáo: Những cuộc xung đột vũ trang cuối thời kỳ chiến tranh lạnh 1988- 1992 của Viện nghiên cứu quốc tế về hoà bình ở Ôxlô (Na Uy) đã công bố: ". các cuộc chiến tranh nhỏ tăng lên tới 82 cuộc, liên quan ít nhất tới 64 quốc gia,.
Các cuộc xung đột dân tộc năm 1992 làm chết 70,000 người và năm 1993 chắc chắn con số không dưới 10 vạn người. Cơ quan Cao uỷ tị nạn Liên hiệp quốc HCR bị bất ngờ vì con số dân tị nạn tăng lên rất cao do các cuộc xung đột dân tộc tran lan khắp năm châu mấy năm gần đây. Nhân viên HCR trước kia là 2100 nay tăng lên đến 3700 vẫn không xuể việc; ngân sách trước kia là 444 triệu, nay vọt lên 1,3 tỷ đô la Mỹ mà vẫn thấp so với nhu cầu. Các cuộc xung đột sắc tộc nổ ra liên tiếp trên thế giới mấy năm gần đây đã chứng minh điều đó.
Ví dụ: Nam tư, từ một liên bang gồm nhiều dân tộc, nay chỉ còn hai dân tộc Secbia và Môngtênêgrô tham gia. Các mâu thuẫn dân tộc và tôn giáo đã phải dùng đến bom đạn và vũ khí hiện đại để giải quyết giữa ba phe: Bosnia, Croatia và Secbia. ở Liên Xô, một thời kỳ vấn đề dân tộc tưởng như đã giải quyết hoàn toàn và triệt để, thì nó bỗng trở nên găy gắt và là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự tan rã của Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa xô viết, đến sự thủ tiêu mọi thành tựu của cuộc Cách mạng tháng Mười vĩ đại. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc.
Trong điều kiện các cuộc chiến tranh sắc tộc xẩy ra liên tiếp trên thế giới, với những đặc điểm đặc thù của các vùng dân tộc thiểu số và miền núi ở nước ta được trình bầy dưới đây, thì vấn đề dân tộc có tầm quan trọng sống còn đối với sự tồn tại, phát triển cũng như sự bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Hiện nay, Việt Nam là quốc gia gồm 54 dân tộc, ngoài người Kinh là dân tộc đa số, có 53 dân tộc thiểu số. Các dân tộc thiểu số cư trú chủ yếu ở miền núi, chiếm 3/4 diện tích của cả nước; cư trú trên toàn tuyến biên giới và vùng cao; cư trú phân tán, xen kẽ với nhau, không hình thành một vùng lãnh thổ riêng biệt. Đặc điểm cư trú trên đây có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng nước ta: - Trong lĩnh vực phát triển kinh tế: tiềm năng đất đai và rừng ở nước ta , tài nguyên khoáng sản, nguồn thuỷ năng, tiềm năng phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi.
phần lớn đều tập trung ở miền núi; - Trong lĩnh vực an ninh quốc phòng: địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước trong thời bình cũng như trong thời chiến. Nước ta có đường biên giới dài 3.200 km trên bộ, liền kề với 3 nước láng giềng (Trung quốc, Lào, Campuchia). Nước ta cũng có chung đường biên giới biển với Trung quốc (Vịnh Bắc bộ), với Campuchia (Vịnh Thái Lan). Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc chủ quyền của ta.
- Các dân tộc nước ta cư trú phân tán, xen kẽ: Yếu tố này nói lên sự hoà hợp cộng đồng dân cư, mặt tốt là tạo điều kiện học hỏi, giúp nhau cùng phát triển, nhưng mặt hạn chế là dễ va chạm dẫn đến mất đoàn kết. Vì vậy, vấn đề đoàn kết dân tộc luôn phải được chú ý ngay cộng đồng dân cư ở cơ sở: làng, xóm, ấp, bản đến xã, huyện, tỉnh, trên phạm vi cả nước; - Giữa các dân tộc ở nước ta có sự phát triển không đồng đều về mặt lịch sử. Hậu quả trực tiếp của sự phát triển không đồng đều của lịch sử và của chính sách dân tộc thời phong kiến và thực dân là đời sống các dân tộc gặp nhiều khó khăn. Trước 1945, nhiều dân tộc phải chịu nạn đói lưu niên.