mở đầu thế ky XIII phát triển ở thế kv XV - XVI. Dương Xá - Thanh Hoá - thế kỷ XV, XVI. Vinh - Bến Thuỷ thế kỷ XVII-XVII. Huế thế ky XVII - XVIII.
Sai Gòn thế ky XVID - XIX.1 Đặc điểm của đô thị Việt Nam trước Tháng 8 năm 1945 - Đặc điểm thứ nhất: Các đô thị cổ Việt Nam thường xuất hiện từ ba yếu tố: “Đó, thành và thị”, trong đó yếu tố "Dé" chiếm vi trí trọng yếu nhất. Như chúng ta di biết, “Đô” thường là ly, sở mang ý nghĩa trung tâm chính trị của cả nước, hoặc nếu có phân phong, thì đó là “D6” của một vùng. “D6” là nơi đóng hành dinh của bộ mầy thống tri cao nhất mà của cả nước là thu đô. “Đô” thường đi đôi với “Thanh”, vừa nhằm bao bọc, bảo vệ “Đô”, vừa là nơi đồn trú của binh lính để bảo vệ hành dinh của bộ máy thống trị.nhu cầu vật phẩm cần thiết cho cuộc sống của vua chúa, quan lại và binh lính đòi hỏi phải có "Thi" (tức chợ) để mua bán, trao đổi.
Cổ Loa xưa từ thời Thục Phan được hình thành trên cơ sở đó. Đến Liên Lâu nơi Sĩ Nhiếp đóng đô cũng vậy. Tuy thành Liên Lâu nhỏ hơn thành „ bế 05 L7 |— ateoa 4 ị ray MÔ Cổ Loa nhưng “Thị” lại tấp nap hơn. Đã có những thương nhân ấn Độ.
Trung Quốc đên buôn bán. Đến Hoa Lu “Đô” ở trong thành mà thị lại hoàn toàn tách ra ở ngoài thành, ven sông Hoàng Long. Thăng Long từ khi định đô (thế ky 1Ì, năm Clash tuất 1010) trở di, "đó, thành và thị” là ba yếu tố luôn kết hợp đề trở thành đô thị trung tâm văn hoá - kinh tế - chính trị của cả nước. Tuy nhiên, cũng có trường hợp do điều kiện cụ thể nên không có đầy đủ các yếu tố tuy có “Thành” kiên cố như thành nhà Hồ nhưng do không định đô được lâu dai và không phát triển được khu vực "Thi" nên không bao giờ nơi đó là đô thị cả.
Còn nhà Mạc cũng cấu trúc nhiều thành ở vùng Đông Bắc đất nước nhưng cũng không nơi nào trở thành đô thị. Do đó, khi tìm hiểu các yếu tố hình thành các đô thị cổ Việt Nam, đã có những cách hiểu khác nhau. Một số nhà khoa học ở Đông Nam Á cho rằng ở Việt Nam vì luôn luôn chống ngoại xâm nên yếu tố “Thanh” là chủ yếu ? Theo chúng tôi hiểu như vậy là không sát thực tế. Bởi vì Việt Nam chống ngoại xâm thắng lợi là dựa vào chiến tranh nhân dân chứ không dựa vào “Thành”, thậm chí khi cần thì tạm rời đô để cuối cùng giành thắng lợi.
Còn riêng yếu tố “Thị” cũng có khi xuất hiện độc lập, tén tại và phát triển trong một thời gian như: Van Đồn, Hội An, Phố Hiến. Có thời kỳ Phố Hiến, Hội An rất phồn thịnh nhưng rồi Phố Hiến cũng giải thể và hội nhập vào đô thành Thăng Long. Còn Hội An cũng không phát triển thành đô thị lớn, khi mà trung tâm chính trị lại chuyển về Đà Nắng. Rõ ràng trong sự hình thành các đô thị cổ Việt Nam, “Thi” không có vai trò lớn mà "Đô" thường chiếm vị trí trọng yếu nhất.
Đặc điểm này quy định nên phương pháp quan lý đô thị có nét đặc thù Việt Nam của ông cha ta. 18 - Đặc điểm thứ hai là thành thị không tách rời với nông thôn, hay cũng có thể nói, đô thị cổ Việt Nam mang tính chất nứa nông thôn nữa thành thi. Đặc điểm này với thời đại công nghiệp có thể để lại những di sản tiêu cực nhiều hơn là tích cực. Nhưng ngày nay, nhân loại đang chuyển dần sang giai đoạn mới mà có nhà khoa học gọi là “Thời đại hậu công nghiệp” với phương châm phát triển là: Đô thị hoá nông thôn, chuyển một phần sản xuất và địch vụ về gia đình, về nông thôn, đồng thời giữ lại những danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử do nông thôn xưa để lại trong đô thị.
Đặc điểm này của đô thị cổ Việt Nam lại để lại những di sản tích cực mà nghệ thuật quản lý đô thị cần khai thác. Đơn cử như những khoảng trống hồ, ao có cây xanh ở Hà Nội, những biệt thự có vườn bao bọc ở Huế, Sài Gon, kèm theo những khu công viên cổ thụ. là những di sản mà các nhà quản lý đô thị đang phải kế thừa, bảo vệ và phát triển. Tính chất nửa nông thôn còn để lại những di sản khá đậm nét ở Thăng Long - Hà Nội.
Thăng Long sau khi định đô vẫn còn những khoảng trống được lấp kín bằng các khu nông nghiệp như khu “Thập tam trại” ở Tây kinh thành bao gồm đất đai của chín làng nông nghiệp là: Liễu Giai, Giảng Võ, Vĩnh Phúc, Đại Yên, Thủ Lé, Cống Vi, Van Bảo, Ngọc Hà, Hữu Tiệp. Khu này hình thành từ đời Lý còn tồn tại tới thời Nguyễn và nay vẫn còn dấu vết xưa. Ngay ở giữa thủ đô, ngôi đình hiện còn ở 16C Hàng Mã cũng là di tích của các thôn Tân Khai, Tân Lập chuyên về nông nghiệp. Cả đến đơn vị phường vốn dùng để chỉ các phường công, thương nghiệp thì vẫn còn có cả phường nông nghiệp ngay ở giữa Thăng Long như “Toái viên phường”, tức phường trồng tỏi.
Tham chí có thời, triều đình còn cấp đất làm trang viên cho các quan đại thần ngay ở trong lòng Thang Long. Như thời Lê, diéu 226 trong Quốc triểu hình luật quy định: "Quan nhất phẩm được cấp 3 mẫu; quan 19 nhị phẩm 2 mẫu: quan tam phẩm | mẫu: quan tứ pharm Š sào: quan ngũ phẩm 3 sào: quan lục thất phẩm 2 sào” [SO - Tr. Tính chất nửa nông thôn còn biểu hiện ở chỗ. các ngành nghề thủ công cũng từ các làng quê ra tinh làm ăn theo thời vụ rồi lại trở về nông thôn, như nghề nhuộm ở Đan Loan (Hải Dương), nghề tiện gỗ ở Nhị Khê (Hà Đông), nghề da giầy ở Trúc Lãm, Phong Lãm, Văn Lãm (Hải Dương), nghề đúc đồng ở Đại Bái (Bắc Ninh), nghề làm hàng vàng bạc Đồng Sâm (Thái Bình).
Ngoài một số ít nghệ nhân được cư trú tại các phố phường Thang Long thì số đông từ nông thôn ra thành thị, hết phiên chợ lại trở về nông thôn. Có thời thịnh trị như thời Lê sơ, vua chúa cũng vẫn đuổi thương nhân và thợ thủ công trở về nông thôn. Vì vậy, tới các phiên chợ ở đô thị Thăng Long, hàng hoá vẫn là sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp do thang dư lao động mà có, tức sản phẩm của tái sản xuất giản đơn trong nền kinh tế tự cấp, tự túc, chứ chưa có kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Cho đến thế ky XIX, sau khi nhà Nguyễn doi đô từ Thăng Long vào Huế, đã đặt nơi đây là tỉnh Hà Nội mà quy hoạch lấy huyện Từ Liêm thuộc tỉnh Sơn Tây nhập vào phủ Hoài Đức, và lấy ba phủ: Ứng Hoà, Lý Nhân, Thường Tín thuộc trấn Sơn Nam cũ hợp với phủ Hoài Đức thành tỉnh Hà Nội, đặt chức Tổng đốc Hà-Ninh coi cả Hà Nội và Ninh Bình.
Ngay kinh đô Huế cũng chỉ được coi trọng vì đó là kinh đô chứ không phải do phát triển thị trường. Thay vào "Thị", nhà Nguyễn lấy vùng phụ cận để phục vụ Kinh đô bang cách dat ra các dinh, trấn trực lệ, như Quảng Trị, Quang Binh ở phía Bắc và Quảng Nam, Quảng Ngãi ở phía Nam. Như vậy, cho đến thế kỷ thứ XIX, khi thế giới đã bước vào giai đoạn phát triển cao của chủ nghĩa tư bản - tới chủ nghĩa đế quốc, đô thị đã có sứ 20 mang giao lưu, liên kết kinh tê quốc tế, nhưng ở Việt Nam. dé thị vẫn còn mang tính chất chính trị với “DO” và “Thanh” là chủ véu.
Quản lý hành chính ở đô thị trong thoi kỳ Phong kiến - Về guy hoạch đô thị. Vì coi trọng yếu tố “Đô”, nên ngay từ Cổ loa, “Đô” phải đóng ở trong “Thành”. Vua, quan và quân nhân đều đóng ở trong thành, dân công phục vu lúc đó chưa nhiều. Giao lưu với bên ngoài qua hai đường thuỷ và bộ, nhưng chưa hình thành được thương trường để kết hợp giữa “D6” và “Thị”.
Cho nên gọi Cổ loa là đó thành thì đúng hơn. Đến Liên lâu, quy hoạch tuy không rộng lớn, nhưng Si Nhiếp là quan văn cai quản, đã cho phát triển thương mại, truyền bá Khổng giáo cho phép giao lưu với nước ngoài. Nên quy hoạch có phần rộng, thoáng hơn. Cố đô Hoa Lư thì yếu tố “Đô” và yếu tố “Thanh” gắn chặt với nhau còn yếu tố “Thị” hầu như bị tách ra nằm ở ngoài đô thành, ven sông Hoàng Long.
Tới Thăng Long, tuy đó, thành và thị đã kết hợp chặt chẽ nhưng “Đô” vẫn là yếu tố quan trọng nhất, đã có tới ba vòng thành bao bọc. Đó là ké thừa di sản của thời kỳ “Tiền Thăng Long” mà Trung tâm 1a toà Tử Thành hay còn gọi là Tử Cấm Thành của viên Tổng quản nhà Đường là Khâu Hoà, xây dựng trên bờ sông Tô Lich (năm Tân Ty 621) có chu vi 900 bộ (tức 1. Khi Thăng Long trở thành kinh đô (thời Lý) mới lấy khu trung tâm chính trị đặt làm Đại nội (nơi Vua ở) với vòng thành bao bọc gọi là Cấm Thành hay còn gọi là Long Thành. Ngoài đó mới đến vòng thành thứ hai là Hoàng Thành bao bọc các cơ quan của triều đình (ngày nay là tương đương với khu nội thành, có các cửa Đồng, Tây, Nam, Bắc vẫn còn những dấu vết).
Rồi dến vòng thành thứ ba ở ngoài cùng là Đạt La thành trên dau vét của thành Đại La mà Cao Bién đã quy hoạch xưa (Cao biển là Sứ nhà Đường khoảng những năm 865 - 866). Khu vực giữa Hoàng Thanh và Đại La thành ngày càng trở thành nơi hệi tu của thợ thủ công. thương nhân cùng các gia đình quan lại, quân nhân. Khu vực thủ công và thương nghiệp đã trở thành 36 phố phường vừa gần chợ, vừa cần sông.
Như vậy tư tưởng quản lý đã biểu hiện rõ trong quy hoạch tổng thể: Lấy “Đô” lầm trung tâm, lấy “Thanh” để bảo vệ đô và ngăn cách với dan chúng. Nhưng khu vực giữa hai vòng thành dân cư lại ngày càng đông đúc trở thành khu quan trọng ngoài ý muốn của vua quan, giao lưu, buôn bán giữa quân lính và quan lại với dân cư ngày càng phát triển, cũng từ đây mà yếu tố “Thị” hình thành. Giao lưu, buôn bán, trao đổi để phát triển kinh tế, cuộc sống ngày càng trở nên đô hội, tấp nập và phồn thịnh. - Phan cáp quản lý hành chính trong đô thị.