Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỂ CHUNG VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ TÒA ÁN 1. Sự hình thành Tòa án và mô hình quản lý Toà án 1. Sự hình thành Toà án Nhà nước đã ban hành ra pháp luật thì phải có cơ chế để đảm bảo cho pháp luật được thực thi, bởi lẽ pháp luật sẽ trở nên vô nghĩa, nếu nó không được các giai cấp và tầng lớp khác tuân theo, pháp luật không đi vào đời sống hàng ngày của dân cư. Mặt khác trong bất cứ xã hội nào, luôn luôn có các cá nhân, tổ chức hoặc giai cấp đối lập tìm mọi cách để làm trái các điều luật của nhà nước, đi ngược lại với lợi ích của giai cấp thống trị.
Do vậy giai cấp thống trị đã tổ chức ra một hệ thống các cơ quan chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ và bảo đảm cho pháp luật được thực thi như quân đội, cảnh sát. Nhưng không thể sử dụng đội quân này có thể bắt bớ, giam cầm một cách tùy tiện, bởi như thế sẽ tạo nên sự hỗn loạn trong xã hội. Bởi lẽ đó cần có một cơ quan được lập ra để đảm nhiệm chức năng xét xử, xem xét hành vi nào là đúng, là sai. Cơ quan đó chính là tòa án, luôn tồn tại trong bất kỳ chế độ nhà nước nào.
Lênin "… Tòa án là cơ quan quyền lực nhà nước, hoạt động của tòa án là hình thức hoạt động của nhà nước. Vị trí, vai trò của Tòa án ở Việt Nam Tòa án là biểu hiện tập trung của quyền tư pháp, là cơ quan thực hiện chức năng xét xử. Ngay từ buổi đầu của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tòa án đã chiếm một vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong việc xét xử những hành vi vi phạm pháp luật, chống phá nhà nước ta. Cùng với quá trình phát triển của cách mạng, ở mỗi một giai đoạn khác nhau, do những yêu cầu đặt ra khác nhau, tổ chức, hoạt động của tòa án nhân dân cũng có những nhiệm vụ và mục 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiêu khác nhau.
Tuy nhiên nó cũng chiếm một vị trí và vai trò hết sức quan trọng, ".là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong phạm vi chức năng của mình có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân ; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân…” [1,tr. Khái quát mô hình quản lý Toà án của Việt Nam giai đoạn 1945 - 2002 Trong giai đoạn 1945 - 2002, mô hình quản lý Toà án nhân dân địa phương được chia thành 4 giai đoạn tương ứng với các mô hình khác nhau, cụ thể là: 1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959 Ngay sau khi cách mạng tháng tám thành công, Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hoà đã quan tâm đến công tác xét xử và xây dựng hệ thống Toà án.
Ngày 13/9/1945, Chính phủ lâm thời đã ra Sắc lệnh số 33/SL về việc thiết lập các Tòa án quân sự ở các địa phương khác nhau trong cả nước. Theo Sắc lệnh này, ở nước ta sẽ thiết lập các Tòa án quân sự ở Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình, Vinh, Huế, Quảng Ngãi, Sài Gòn, Mỹ Tho. Các Tòa án quân sự đã được thành lập với thẩm quyền xét xử sơ thẩm, đồng thời chung thẩm tất cả những người phạm vào một việc gì có phương hại cho nền độc lập của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Để giữ vững kỷ luật trong quân đội, ngày 23/8/1945 Chính phủ đã ra sắc lệnh số 163/SL về việc thành lập tòa án xét xử các quân nhân, sĩ quan phạm tội.
Đây là những văn bản pháp lý đầu tiên, là cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của tòa án sau này. Tuy nhiên, vì yêu cầu của cách mạng lúc bấy giờ, Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hoà mới chỉ thiết lập các Tòa án quân sự mà chưa tổ chức hệ thống Tòa án các cấp và các Tòa án quân sự cũng chỉ xét xử các vụ án hình sự 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mà không xét xử các vụ án dân sự. Ngày 24/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 13 về tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán. Đây là Sắc lệnh đầu tiên quy định một cách đầy đủ, cụ thể tiêu chuẩn nhiệm vụ và quyền hạn của các ngạch thẩm phán.
Theo đó, các Toà án sơ cấp, đệ nhị cấp, Toà thượng thẩm đã được thành lập, Thẩm phán ở Toà án thượng thẩm và Toà án đệ nhị cấp do Chủ tịch nước bổ nhiệm, còn thẩm phán ở Toà án sơ cấp do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm. Ngày 29/4/1958, Quốc hội quyết định thành lập Tòa án nhân dân tối cao và Viện công tố nhân dân trung ương, trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Có thể nói đây là một bước quá độ rất cần thiết làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống Tòa án nhân dân trong Bộ máy nhà nước một năm sau đó. Năm 1959, Hiến pháp mới ban hành, Toà án tối cao, Viện công tố được thành lập lại thành Toà án nhân dân tối cao và tách ra khỏi Chính phủ.
Từ năm 1946 đến năm 1960 tất cả các cơ quan Toà án đều đặt dưới sự quản lý của Bộ Tư pháp về mặt tài chính, kinh phí, tổ chức chế độ làm việc và các công việc về nhân sự. Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980 Hiến pháp năm 1959 đã thể chế hoá các quan điểm của Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng đã đề ra. Căn cứ vào các quy định của Hiến pháp 1959 về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, ngày 14/7/1960, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá II, kỳ họp thứ nhất đã thông qua Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Tiếp đó, để kiện Toàn Tòa án nhân dân các cấp, tăng cường tính nhân dân của Tòa án nhân dân và bảo đảm cho việc xét xử được chính xác và đúng pháp luật.
Ngày 23/3/1961 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức Tòa án nhân dân tối cao và tổ chức của Tòa án nhân dân địa phương. Ngoài các quy định trên, theo Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hoà năm 1960, Bộ Tư pháp giải thể. Về quản lý các Toà án nhân dân địa phương, Điều 23 Luật Tổ chức Toà 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com án nhân dân quy định: “. Bộ máy làm việc và biên chế của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện theo quy định chung về bộ máy làm việc và biên chế của Cơ quan Nhà nước” và Điều 14 Pháp lệnh ngày 23/3/1961 quy định: “Tổ chức cụ thể của bộ máy làm việc và biên chế cụ thể của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện theo những quy định chung về bộ máy làm việc và biên chế của các cơ quan nhà nước.
Tổng biên chế của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dân tối cao định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn”. Tuy nhiên, trên thực tế, các Toà án nhân dân địa phương được xem là đơn vị xét xử của đơn vị hành chính của từng cấp địa phương việc quản lý Toà án nhân dân địa phương chủ yếu do chính quyền địa phương đảm nhiệm (hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, bãi miễn Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán; kinh phí và cơ sở vật chất cho hoạt động do Uỷ ban nhân dân địa phương đảm nhiệm, chế độ tiền lương của cán bộ Toà án nhân dân các cấp do Chính phủ đảm nhiệm. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992 Ngày 13/12/1980, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 7, đã thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam thống nhất - Hiến pháp 1980. Nhìn chung, các quy định về Tòa án nhân dân trong Hiến pháp 1980 kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp 1959.
Trong Tờ trình trước Quốc hội về Dự thảo Luật tổ chức Toà án nhân dân tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá VII (tháng 7/1981) do Toà án nhân dân tối cao chuẩn bị trước Quốc hội có viết: “Để bảo đảm cho các Tòa án nhân dân thực hiện được tốt công tác xét xử, việc quản lý về biên chế, tổ chức và cán bộ của Tòa án nhân dân các cấp là rất quan trọng. Trước đây, khi giải thể Bộ Tư pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 đã giao nhiệm vụ này cho 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tòa án nhân dân tối cao. Nay, nếu Bộ Tư pháp được thành lập, chúng tôi đề nghị Tòa án nhân dân tối cao quản lý tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp quản lý về tổ chức của Tòa án nhân dân địa phương”. Đồng thời trong Tờ trình thành lập lại Bộ Tư pháp, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã báo cáo trường kỳ họp thứ 1 Quốc hội khoá VII đã khẳng định: “Thực tiễn 20 năm qua (1960 - 1980) chứng minh rõ việc Hội đồng Chính phủ, cơ quan chấp hành nhà nước cao nhất, cơ quan quản lý Toàn diện công việc của Nhà nước không có Bộ Tư pháp là điều rất không hợp lý, Tòa án nhân dân tối cao với tư cách là Toà án, một cơ quan xét xử của Hiến pháp lại được giao chức năng, nhiệm vụ của Bộ, của Chính phủ mà theo pháp luật lại không chịu trách nhiệm trước Chính phủ (chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội), trong khi đó thì Hội đồng Chính phủ không nắm được tình hình thi hành pháp luật, không gắn được việc chấp hành pháp luật trong việc xét xử với việc điều hành công việc chung của chính phủ, từ đó không chỉ đạo được hoạt động đấu tranh chống tội phạm loại trừ các nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm và các hành vi phạm pháp khác.
Tình hình này kéo dài sẽ có hậu quả không tốt. Hội đồng Chính phủ phải là người quản lý Toàn diện mọi hoạt động của đời sống xã hội kể cả quản lý tư pháp. Hội đồng Chính phủ phải có Bộ Tư pháp để giúp cho Hội đồng Chính phủ thống nhất quản lý công tác tư pháp”.