Tổng quan nghiên cứu

Kinh tế tập thể với nòng cốt là hợp tác xã giữ vai trò nền tảng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội bền vững của Thủ đô Hà Nội. Tính đến ngày 31/12/2009, toàn thành phố Hà Nội có 1.580 hợp tác xã đang hoạt động, trong đó hợp tác xã nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp chiếm tỷ trọng chi phối với 60,8% (960 đơn vị), tiếp đến là công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 15,8% (249 đơn vị) và thương mại - dịch vụ chiếm 8,9% (141 đơn vị). Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Hà Nội giai đoạn 2006-2009 duy trì ở mức cao 10,5%/năm và GDP bình quân đầu người đạt 31,8 triệu đồng vào năm 2009, đóng góp của khu vực kinh tế tập thể vào tổng sản phẩm trên địa bàn lại có xu hướng sụt giảm từ 2,04% năm 2006 xuống còn 1,57% năm 2009.

Thực tiễn này xuất phát từ những điểm nghẽn nghiêm trọng trong cơ chế quản lý hợp tác xã: bộ máy quản trị chậm đổi mới khi có tới 95,3% đơn vị duy trì mô hình một bộ máy kiêm nhiệm, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, công tác quản lý nhà nước còn phân tán, chồng chéo và các chính sách hỗ trợ theo Nghị định 88/CP chậm đi vào cuộc sống. Đứng trước yêu cầu tái cơ cấu sau khi mở rộng địa giới hành chính Thủ đô từ năm 2008, mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ thực trạng cơ chế quản lý hợp tác xã trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2003-2009, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện nhằm đổi mới cơ chế quản trị, nâng cao hiệu quả kinh doanh và phát huy vai trò của hợp tác xã trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã trong tác phẩm Đường kách mệnh (năm 1927) và các nguyên lý quản trị hợp tác xã hiện đại do Liên minh Hợp tác xã Quốc tế (ICA) ban hành năm 1995 cùng Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa. Hệ thống lý thuyết tập trung phân tích 4 khái niệm trọng tâm:

  1. Cơ chế quản lý kinh tế: Phương thức điều hành, tổ chức và hệ thống biện pháp kinh tế - hành chính nhằm dẫn dắt hệ thống vận động tối ưu theo quy luật khách quan.
  2. Bản chất hợp tác xã: Tổ chức kinh tế tập thể tự chủ, có tư cách pháp nhân do các cá nhân, hộ gia đình tự nguyện góp vốn, góp sức nhằm tương trợ lẫn nhau sản xuất kinh doanh theo Luật Hợp tác xã năm 2003.
  3. Cơ chế quản lý hợp tác xã: Sự tác động có ý thức thông qua hệ thống biện pháp đồng bộ dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi: tự nguyện; dân chủ - bình đẳng - công khai; tự chủ - tự chịu trách nhiệm - cùng có lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng.
  4. Mô hình quản trị phân quyền: Khung so sánh hiệu quả giữa mô hình 1 bộ máy (Ban quản trị kiêm Ban giám đốc điều hành) và mô hình 2 bộ máy (tách bạch rõ chức năng hoạch định quản trị và điều hành tác nghiệp).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khung thời gian từ năm 2003 đến năm 2009 trên địa bàn 29 quận, huyện, thị xã của thành phố Hà Nội. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám Thống kê Hà Nội, báo cáo chuyên đề của Liên minh Hợp tác xã Thành phố và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên trên cỡ mẫu lớn gồm 1.424 hợp tác xã toàn thành phố vào năm 2005 và khảo sát chuyên sâu 900 hợp tác xã nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp trong năm 2009. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn trực tiếp 2.700 cán bộ quản lý chủ chốt thuộc 3 chức danh: Chủ nhiệm, Trưởng Ban kiểm soát và Kế toán trưởng. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và phương pháp tiếp cận hệ thống được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác các chỉ tiêu tài chính, hiệu quả kinh doanh và cấu trúc quản trị, từ đó đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao cho các kết luận.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về quy mô tài chính và kết quả kinh doanh, khu vực hợp tác xã tại Hà Nội ghi nhận mức tăng trưởng về doanh thu nhưng quy mô vốn tích lũy còn khiêm tốn. Năm 2009, doanh thu bình quân một hợp tác xã toàn thành phố đạt 4,093 tỷ đồng (cao gấp đôi mức bình quân cả nước là gần 2 tỷ đồng), lợi nhuận trước thuế bình quân đạt 257,7 triệu đồng (gấp 2,8 lần bình quân cả nước là 89 triệu đồng). Đối với khối nông nghiệp, vốn kinh doanh bình quân tăng từ 1.042,1 triệu đồng năm 2006 lên 1.404,0 triệu đồng năm 2009 (tăng 10,4%/năm), trong đó vốn chủ sở hữu chiếm trên 80% tổng nguồn vốn nhưng vốn góp thực tế của xã viên chỉ chiếm 14% (160,9 triệu đồng).

Thứ hai, cơ cấu hoạt động dịch vụ bộc lộ sự mất cân đối và phụ thuộc lớn vào nguồn thu dân sinh. Khảo sát 900 hợp tác xã nông nghiệp năm 2009 cho thấy có 84,8% đơn vị làm dịch vụ tưới tiêu, 84,0% làm dịch vụ bảo vệ đồng ruộng và 67,9% làm dịch vụ bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, chỉ có 1,8% hợp tác xã (16 đơn vị) tham gia khâu tiêu thụ sản phẩm và 0,8% (7 đơn vị) tham gia chế biến nông sản. Đáng chú ý, nguồn thu từ dịch vụ kinh doanh điện nông thôn chiếm từ 50% đến 70% tổng doanh thu của các đơn vị thực hiện dịch vụ này, khiến hoạt động hợp tác xã đối mặt nguy cơ thâm hụt tài chính nặng nề khi bàn giao lưới điện về ngành điện lực quản lý.

Thứ ba, cơ cấu tổ chức quản trị xơ cứng và chất lượng nhân lực quản lý còn nhiều hạn chế. Có tới 95,3% hợp tác xã hoạt động theo mô hình một bộ máy vừa quản lý vừa điều hành, triệt tiêu tính độc lập trong kiểm tra, kiểm soát. Trong tổng số 2.700 cán bộ chủ chốt được khảo sát năm 2009, tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng chỉ chiếm 9,8% và trên đại học chiếm 0,1%; trình độ sơ cấp, trung cấp chiếm 52,6%; đặc biệt còn tới 37,4% (1.010 cán bộ) chưa qua đào tạo chuyên môn. Tỷ lệ Trưởng Ban kiểm soát có trình độ cao đẳng, đại học chỉ đạt vỏn vẹn 3,3%.

Thứ tư, tình trạng nợ đọng nội bộ gây ách tắc nguồn vốn lưu động. Bình quân mỗi hợp tác xã nông nghiệp gánh khoản nợ phải trả là 165,2 triệu đồng, trong khi nợ phải thu từ xã viên (tiền dịch vụ, sản phẩm tồn đọng) lên tới 86,5 triệu đồng (tương đương 52,4% tổng số nợ phải trả), khiến khoảng 33% số hợp tác xã không có hoặc có rất ít vốn lưu động (dưới 50 triệu đồng) để tái đầu tư.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên bắt nguồn từ tâm lý ỷ lại, trông chờ cơ chế bao cấp vẫn còn nặng nề trong nhận thức của một bộ phận cán bộ và xã viên. Tốc độ đô thị hóa nhanh tại các huyện như Từ Liêm, Hoài Đức, Gia Lâm, Thanh Trì làm thu hẹp diện tích đất canh tác, đẩy hợp tác xã nông nghiệp vào thế bị động khi chuyển đổi mô hình kinh doanh. Đồng thời, sức ép cạnh tranh gay gắt từ khối doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI vốn vượt trội về vốn và công nghệ khiến hợp tác xã yếu thế trên thị trường.

Các dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua biểu đồ cơ cấu ngành nghề (nông nghiệp chiếm 60,8%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 15,8%) và bảng so sánh tốc độ tăng trưởng doanh thu giữa các nhóm: trong khi nhóm hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp thuần túy giảm doanh thu bình quân 5,4%/năm, thì nhóm dịch vụ tổng hợp lại tăng trưởng mạnh 14,02%/năm giai đoạn 2006-2009. So sánh với các mô hình tại một số địa phương phát triển, tính liên kết kinh tế theo chuỗi giá trị và quy mô Liên hiệp Hợp tác xã tại Hà Nội còn rất mờ nhạt. Điều này đòi hỏi chính quyền thành phố phải cấp thiết ban hành cơ chế quản lý mới để giải phóng tiềm năng của khu vực kinh tế này.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện khung khổ thể chế và chính sách tài chính - tín dụng: Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Sở Tài chính cần thể chế hóa các chính sách hỗ trợ theo Nghị định 88/CP; nâng mức hỗ trợ ngân sách nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn từ mức 22,1 triệu đồng/đơn vị lên tối thiểu 100 triệu đồng/hợp tác xã trong giai đoạn 2011-2015; đồng thời đưa Quỹ bảo lãnh tín dụng hợp tác xã đi vào vận hành thực chất nhằm hỗ trợ 100% hợp tác xã có dự án khả thi tiếp cận vốn vay thương mại.
  2. Tái cấu trúc mô hình tổ chức và chuẩn hóa quản trị nội bộ: Chuyển đổi mô hình quản lý từ một bộ máy kiêm nhiệm sang mô hình 2 bộ máy tách bạch giữa Hội đồng quản trị và Ban giám đốc điều hành tại tối thiểu 30% hợp tác xã quy mô xã đến năm 2015; ban hành đầy đủ quy chế hoạt động của Ban quản trị, Ban kiểm soát và quy chế quản lý tài chính - tài sản công khai, minh bạch.
  3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Liên minh Hợp tác xã thành phố triển khai kế hoạch đào tạo giai đoạn 2011-2015, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ cán bộ chưa qua đào tạo từ 37,4% xuống dưới 15%, nâng tỷ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học lên trên 25%; đồng thời áp dụng chính sách thu hút cán bộ trẻ có trình độ chuyên môn với mức hỗ trợ lương từ 1,5 đến 2,5 triệu đồng/tháng.
  4. Mở rộng chuỗi dịch vụ và liên kết kinh tế: Các hợp tác xã cần chủ động chuyển dịch cơ cấu từ dịch vụ nông nghiệp thuần túy sang dịch vụ tổng hợp (nước sạch, vệ sinh môi trường, quản lý chợ); đẩy mạnh liên kết với các doanh nghiệp chế biến để nâng tỷ lệ hợp tác xã bao tiêu sản phẩm nông nghiệp từ 1,8% lên 15% vào năm 2015; tích cực thành lập các Liên hiệp Hợp tác xã chuyên ngành theo vùng sản xuất tập trung.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban nhân dân TP Hà Nội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn): Nắm vững luận cứ khoa học và số liệu thực tế để xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình mục tiêu phát triển kinh tế tập thể và quy hoạch mạng lưới hợp tác xã sau sáp nhập địa giới hành chính.
  2. Ban quản trị, Ban giám đốc và Ban kiểm soát các hợp tác xã: Ứng dụng mô hình quản trị 2 bộ máy, xây dựng quy chế quản lý tài chính nội bộ, xử lý công nợ đọng xã viên và thiết lập chiến lược mở rộng danh mục dịch vụ phi nông nghiệp.
  3. Liên minh Hợp tác xã và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội: Sử dụng kết quả nghiên cứu làm tài liệu tham khảo để biên soạn giáo trình bồi dưỡng năng lực quản lý kinh tế cho đội ngũ Chủ nhiệm, Kế toán trưởng; xây dựng các dự án hỗ trợ xúc tiến thương mại và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của xã viên.
  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế phát triển: Tiếp cận phương pháp luận nghiên cứu thực chứng, khung phân tích cơ chế quản lý kinh tế tập thể và hệ thống dữ liệu kinh tế học nông thôn phong phú phục vụ các công trình nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

Đặc trưng nổi bật nhất của mô hình tổ chức hợp tác xã tại Hà Nội giai đoạn nghiên cứu là gì?

Có tới 95,3% hợp tác xã tại Hà Nội áp dụng mô hình một bộ máy kiêm nhiệm giữa Ban quản trị và Ban điều hành, chỉ có 4,7% (58 đơn vị) tách bạch hai bộ máy. Về quy mô tổ chức, hợp tác xã quy mô thôn chiếm đa số với 58,9%, trong khi quy mô toàn xã chiếm 31,7% và quy mô liên thôn chiếm 9,4%.

Thực trạng trình độ cán bộ quản lý hợp tác xã nông nghiệp Hà Nội bộc lộ những điểm yếu nào?

Khảo sát 2.700 cán bộ chủ chốt năm 2009 cho thấy có 37,4% cán bộ hoàn toàn chưa qua đào tạo chuyên môn, 52,6% có trình độ sơ cấp và trung cấp, chỉ có 9,8% đạt trình độ cao đẳng, đại học. Chức danh Trưởng Ban kiểm soát có trình độ chuyên môn thấp nhất khi chỉ có 3,3% sở hữu bằng đại học, cao đẳng.

Tại sao doanh thu của các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp thuần túy lại giảm trong giai đoạn 2006-2009?

Doanh thu bình quân của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp giảm 5,4%/năm do diện tích đất nông nghiệp giảm nhanh vì đô thị hóa và giá vật tư tăng cao. Ngược lại, những hợp tác xã mở rộng sang dịch vụ tổng hợp và dịch vụ dân sinh đạt mức tăng trưởng doanh thu bình quân lên tới 14,02%/năm.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thiếu hụt vốn lưu động tại các hợp tác xã nông nghiệp là gì?

Phần lớn tài sản cố định (chiếm trên 80% tổng vốn) là công trình kênh mương, đường điện xuống cấp không thể thu hồi khấu hao. Đồng thời, nợ phải thu từ xã viên bình quân lên tới 86,5 triệu đồng/hợp tác xã (chiếm 52,4% tổng nợ phải trả), khiến khoảng 33% số đơn vị rơi vào cảnh cạn kiệt vốn lưu động.

Hợp tác xã cần làm gì để bù đắp thâm hụt tài chính khi bàn giao lưới điện nông thôn cho Nhà nước?

Do dịch vụ điện chiếm từ 50% đến 70% tổng doanh thu của nhiều đơn vị, các hợp tác xã phải khẩn trương đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, chuyển mạnh sang cung cấp nước sạch, quản lý chợ nông thôn, dịch vụ môi trường và xây dựng chuỗi cung ứng - tiêu thụ nông sản an toàn.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cơ chế quản lý kinh tế tập thể và xác lập các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Phân tích sâu sắc bức tranh thực trạng của 1.580 hợp tác xã tại Hà Nội sau sáp nhập địa giới hành chính, chỉ rõ tiềm năng tăng trưởng vượt trội về doanh thu (4,093 tỷ đồng/đơn vị) song hành cùng những rủi ro cấu trúc tài chính và dịch vụ.
  • Nhận diện chính xác 3 điểm nghẽn lớn nhất: mô hình quản trị một bộ máy kiêm nhiệm chiếm 95,3%, chất lượng nhân lực yếu kém với 37,4% cán bộ chưa qua đào tạo, và tình trạng công nợ xã viên kéo dài làm cạn kiệt vốn lưu động.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược cho giai đoạn 2011-2015, tập trung vào hoàn thiện chính sách hỗ trợ vốn trên 100 triệu đồng/đơn vị, chuẩn hóa cán bộ đại học trên 25% và mở rộng chuỗi liên kết bao tiêu nông sản đạt 15%.
  • Đổi mới cơ chế quản lý là yêu cầu sống còn; các cấp lãnh đạo chính quyền thành phố Hà Nội và ban quản trị hợp tác xã cần nhanh chóng triển khai đồng bộ các khuyến nghị của luận văn để nâng cao năng lực cạnh tranh và đưa kinh tế tập thể phát triển bền vững.