Chương 1: Một số lý luận chung về thông tin đổi mới PTTS trên báo điện tử; Chương 2: Thực trạng thông tin về vấn đề đổi mới PTTS trên báo điện tử Việt Nam hiện nay; Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp góp phần nâng cao chất lượng thông tin về đổi mới PTTS trên báo điện tử ở Việt Nam hiện nay. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THÔNG TIN ĐỔI MỚI PHƢƠNG THỨC TUYỂN SINH TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 1. Đổi mới Đổi mới đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển và vận động của mọi sự vật, hiện tượng. Trong tiế ng Anh , dùng từ “Renovation” hay “Innovation”, tiế ng Pháp dùng từ “Rénovation” với nghĩa “Đổi mới”.
Từ này theo nghiên cứu có nguồn gốc từ phương Tây và đã được sử dụng từ rất lâu bởi các nhà kinh tế học cổ điển như Marx, List, Veblen… Đổi mới là quá trình mang tính chủ động, nằm trong quy luật vận động và phát triển tự thân của sự vật. Điều này có nghĩa đổi mới là một công việc diễn ra hằng ngày. Bất kỳ sự vật, hiện tượng, cá nhân, cộng đồng và dân tộc nào cũng luôn luôn trải qua quá trình đổi mới như là bản năng để tự thích nghi với những thay đổi của môi trường sống. Câu nói rất nổi tiếng của Heraclite “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” đã nói lên tinh thần này.
Vì thế, đổi mới ít nhiều hàm nghĩa vận động, tức là sự vật, hiện tượng, cá nhân, cộng đồng, dân tộc và thậm chí cả thế giới muốn phát triển bình thường cần phải đổi mới thường xuyên và tự đổi mới. Một hệ thống đạt được tiêu chí này là đạt đến tiêu chuẩn đầu tiên và quan trọng nhất để được công nhận là hoàn thiện và tối ưu. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ đổi mới. Theo Schumpeter – một nhà kinh tế học người Mỹ thì đổi mới chính là: “Những tổ hợp mới, được biểu hiện như một sự ứng dụng một sản phẩm mới, một phương pháp sản xuất mới, sự mở ra một thị trường mới, sử dụng một nguồn cung cấp nguyên liệu thô mới, hoặc một phương thức tổ chức mới các ngành [28, tr.
Định nghĩa của Schumpeter đã được ứng dụng trong những nghiên cứu của một số tác giả như Edquist, Hommen hay Rolfstam. Tuy nhiên, các nhà khoa học sau đã có những bổ sung để khái niệm được rõ nghĩa hơn. Chẳng hạn, dựa 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trên cách tiếp cận này, học giả người Đức Edquist cho rằng: “đổi mới là những sáng tạo mới có tầm quan trọng về kinh tế” [27, tr. 89], do vậy có sự phân biệt giữa đổi mới và sáng chế.
Tuy nhiên, định nghĩa của Edquist, nhìn nhận đổi mới chủ yếu là từ triển vọng - đó hoàn toàn là tự nhiên, vì “các kết quả của những nỗ lực đổi mới có thể khó được biết từ trước”. Đổi mới được Edquist nhấn mạnh là một quá trình phá hủy có sáng tạo. Qua đó, các cấu trúc cũ bị phá hủy và cấu trúc mới được xây dựng lên [27; tr. Edquist đã phân loại đổi mới thành hai loại hình: Đổi mới đột biến (radical innovation) và đổi mới dần dần (incremental innovation).
Ban đầu, ông cho rằng chỉ những đổi mới đột biến mới có ý nghĩa nhưng sau này, chính ông lại cho rằng những hoạt động đổi mới dần dần chính là những hoạt động phổ biến hơn và có đóng góp nhiều hơn. Tuy nhiên, cách tiếp cận của Edquist kém hiệu quả trong việc nắm bắt những cơ chế cơ sở mà thực tế diễn ra bởi ngoài việc hiểu được đổi mới là gì, con người cũng cần phải nắm được cách thức mà đổi mới diễn ra. Để đáp ứng nhu cầu đó, Edler – một nhà kinh tế học người Đức đã mô tả đặc trưng của đổi mới một cách rõ ràng hơn. Cụ thể, đổi mới là: “sự tìm kiếm, và phát minh, thử nghiệm, phát triển, bắt chước, và áp dụng những sản phẩm mới, những quy trình sản xuất mới và những cơ cấu tổ chức mới.
Quá trình này cũng mang tích tích lũy, nghĩa là những tri thức có từ trước quyết định những năng lực khai thác các khả năng kỹ thuật mới” [25, tr. Khái niệm đổi mới được nghiên cứu rõ nét hơn khi đặt trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế từ cuối những năm 1950. Các công trình nghiên cứu của Robert Solow (1959) đã chỉ ra mô hình thực nghiệm rằng 87% sự tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ từ năm 1909 đến năm 1949 là do một nhân tố không xác định được, gọi là nhân tố đổi mới công nghệ. Robert Solow đã cho rằng: “Đổi mới nhiều khi hay bị nhầm lẫn với khái niệm sáng chế (invention).
Sáng chế là lần đầu tiên xuất hiện ý tưởng về một sản phẩm hay một quy trình mới. Trong khi đó, đổi mới là việc đưa các ý tưởng này vào thực tiễn” [16; tr. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cách tiếp cận tân cổ điển về đổi mới không phải là cách tiếp cận duy nhất. Một loạt các nhà kinh tế học khác như Aschhoff và Sofka (1982) đã phát triển và tiếp cận vấn đề đổi mới theo phương pháp có tính định hướng, hệ thống và giải thích vấn đề đổi mới một cách triệt để hơn.
Các nhà khoa học này cho rằng đổi mới không phải là một quá trình tuyến tính trong xã hội mà là một quá trình mang tính tích lũy, tương tác qua lại, có tính học hỏi đồng thời cũng có cơ chế phản hồi [5; tr. Trên cơ sở những nghiên cứu cùng kết hợp phân tích những khái niệm trên đây, có thể dễ dàng nhận thấy cách tiếp cận của các học giả mới chỉ nhìn nhận khái niệm và quá trình của đổi mới dưới góc độ kinh tế, công nghiệp. Còn trên thực tế, đổi mới không chỉ là sáng tạo ra các sản phẩm hoặc dịch vụ mới, không chỉ là sự sử dụng các công nghệ và kỹ thuật sản xuất mới hay sự thực hiện các phương thức mới để tổ chức hoạt động và các quá trình kinh doanh mới mà hiểu theo nghĩa căn bản, chung nhất thì đổi mới là quá trình thay đổi những sản phẩm/ quy trình/ hình thức tổ chức mang tính cải tiến, đột phá, gia tăng để tạo ra những cái mới. Và đổi mới diễn ra ở tất cả các lĩnh vực chứ không chỉ ở lĩnh vực kinh tế.
Năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng khái niệm “đổi mới” trong sự vận dụng cụ thể vào đổi mới đất nước, Người viết: “Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”. Khi nhấn mạnh sự cần thiết phải không ngừng đổi mới nhận thức để phản ánh đúng tình hình thế giới, tình hình trong nước vốn không ngừng biến đổi, Hồ Chí Minh viết: “Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Đổi mới theo Hồ Chí Minh, “…còn là để thắng sức ỳ của thói quen, của tập quán cũ. Dù đó là việc khó khăn, nhưng chẳng có việc gì là không thể đổi mới” [54; tr.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đổi mới và phát triển là những khái niệm rất gần gũi, đôi khi được hiểu như nhau. Báo cáo tại Hội nghị Chính trị đặc biệt năm 1964, Người viết: “Trong 10 năm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Đất nước, xã hội, con người đều đổi mới” [54; tr. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở một khía cạnh khác, khái niệm đổi mới được dùng gần giống với khái niệm cách mạng và cải cách, tuy nhiên so với cách ma ̣ng và cải cách thì đổ i mới “phổ biế n hơ n” , “nội dung tiế n hành rộng raĩ hơ n” và có thể tiế n hành lâu dài hơn.
Bởi đổ i mới đư ơ ̣c tiế n hà nh bấ t kỳ ở triǹ h độ kinh tế , xã hội nào , ở giai đoa ̣n lich ̣ sử nào, ở bất kỳ cá nhân hay dân tộc nào. Bên cạnh đó, đổi mới có thể diễn ra trong tấ t cả các hoa ̣t động sinh hoa ̣t của con ngư ời , không chỉ qua hành động mà cả tư duy , tâm lý, tình cảm. Chức năng quan trọng của đổi mới chính là đưa sự sáng tạo và tính mới vào hệ thống (kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, y tế…). Nếu không có đổi mới, xã hội sẽ rơi vào trạng thái “tĩnh” mà không có phát triển.
Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội X của Đảng khẳng định: “Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới”. Do đó, đổi mới đóng vai trò thiết yếu đối với sự phát triển của con người và xã hội. Từ những khái niệm trên đây, kết hợp với nghiên cứu thực tiễn, tác giả luận văn xin đưa ra khái niệm về đổi mới để phục vụ cho quá trình nghiên cứu như sau: “Đổi mới là cách thức để thay đổi một phương thức hành động, tạo lập một phương thức hành động mới tố t hơ n , tiế n bộ hơ n so với trư ớc”. Đổi mới là thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ lạc hậu, lỗi thời, không đáp ứng được nhu cầu phát triển, bằng cách nghĩ, cách làm khác, tiến bộ hơn và hợp với quy luật của sự phát triển.
Và đổi mới diễn ra ở tất cả các lĩnh vực từ kinh tế , chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục…, trong đó đổi mới cũng xuất hiện ở cả những phạm vi hẹp hơn như “đổi mới PTTS… 1. Phương thức Thuật ngữ phương thức trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động. Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, phương thức cũng chính là phương pháp. Đó là hệ thống những hành động tuần tự nhằm đạt được những kết quả phù hợp với mục đích đã định.
Phương thức định hướng cho con người xác định, lựa chọn, sử dụng phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn một cách hiệu quả. Tác giả Phạm Minh Hạc trong cuốn Phương pháp luận Khoa 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học giáo dục, đã cho rằng: “Phương thức có cấu trúc khá phức tạp, bao gồm mục đích được đề ra, hệ thống những hành động (hoạt động), những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ), quá trình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương thức (mục đích đạt được)” [32, tr. Như vậy, khi sử dụng đúng phương thức sẽ dẫn đến kết quả theo dự định.