Chương 1: Mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa trước 1986 Chương 2: Bước đầu đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa (1986 – 1996) Chương 3: Đẩy mạnh đổi mới mô hình hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Thanh Hóa (1997 – 2010) 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MÔ HÌNH HỢP TÁC TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN THANH HÓA TRƢỚC 1986 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Thanh Hóa 1. Điều kiện tự nhiên Thanh Hóa là vùng đất có lịch sử lâu đời. Đây là nơi đã phát hiện được các di chỉ khảo cổ học thuộc hầu hết các thời đại khảo cổ học lớn của nước ta thời tiền sử và sơ sử.
Từ thời kỳ dựng nước cho tới hiện đại, Thanh Hóa luôn là đơn vị hành chính hoàn chỉnh, đồng thời cũng được chọn làm kinh đô của đất nước dưới thời Hồ. Thanh Hóa hiện nay có 27 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh, 2 thị xã và 24 huyện; 634 xã, phường, thị trấn trong đó có 584 xã. Thanh Hóa có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng. Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình; phía Nam và Tây Nam giáp Nghệ An; phía Tây giáp tin ̉ h Hủa Phăn (Cô ̣ng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ); phía Đông giáp biể n Đông với đường bờ biể n c ủa dải đất liền dài hơn 100km và mô ̣t thề m lu ̣c điạ khá rô ̣ng.
Như vậy, Thanh Hoá là tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ, ở vị trí cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ nên có một vị trí rất thuận lợi trong giao lưu với các tỉnh, thành phố trong cả nước và giao lưu quốc tế. Với diện tích khá lớn, Thanh Hóa có địa hình đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm 3 vùng rõ rệt: - Vùng núi và trung du có diện tích đất tự nhiên 839.037 ha, chiếm 75,44% diện tích toàn tỉnh gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi Trường Sơn phía nam. Rừng Thanh Hoá chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ thực vật phong phú, có các loại gỗ quý hiếm như: lát, pơ-mu, sa mu, lim xanh, táu, sến, vàng tâm, dổi, de, chò chỉ. Đặc biệt, Thanh Hoá là tỉnh có diện tích luồng lớn nhất trong cả nước với diện tích năm 2006 trên 50.
Vùng đồi 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com núi thấp có đất đai màu mỡ, có hệ thống sông ngòi phong phú, tạo điều kiện tốt để phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc. - Vùng đồng bằng có diện tích đất tự nhiên là 162.341 ha, chiếm 14,61% diện tích toàn tỉnh, được bồi tụ bởi các hệ thống Sông Mã, Sông Bạng, Sông Yên và Sông Hoạt, xen kẽ có các đồi thấp và núi đá vôi độc lập. Đồng bằng Sông Mã có diện tích lớn thứ ba sau đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng. Bên cạnh ưu thế phát triển cây lương thực, cây ăn quả, trồng cói ở vùng ven biển và chăn nuôi gia súc, gia cầm, đồng bằng còn có lợi thế để phát triển công nghiệp, TTCN, dịch vụ.
- Vùng ven biển có diện tích 110.655 ha, chiếm 9,95% diện tích toàn tỉnh, từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia. Đường bờ biển dài 102km có dạng cánh cung, địa hình tương đối bằng phẳng. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn thuận tiện cho tàu bè ra vào. Biển Thanh Hóa có bãi tắm Sầm Sơn nổi tiếng và các khu nghỉ mát khác như Hải Tiến (Hoằng Hoá) và Hải Hoà (Tĩnh Gia) .; có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản và phát triển các khu công nghiệp, dịch vụ kinh tế biển.
Khí hậu Thanh Hóa mang tính chất trung hòa giữa khí hậu Bắc kỳ và Trung kỳ. Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, nhiệt độ bình quân năm 24,30C, số giờ nắng trong năm là 1.573 giờ, lượng mưa các các tháng trong năm là 1679mm, rất thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển. Mặt khác, do địa hình đa dạng, phức tạp nên Thanh Hóa có những vùng tiểu khí hậu riêng biệt. Đặc thù về khí hậu đó là yếu tố thuận lợi để phát triển ở Thanh Hóa một nền nông nghiệp đa dạng, có các sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới là chính, nhưng do có mùa đông lạnh, kéo dài 3 đến 4 tháng với nhiệt độ xuống dưới 200C nên còn có thể sản xuất nhiều nông sản của vùng cận nhiệt, ôn đới.
Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 1.341 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 824. Trong diện tích đất nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp 245.726 ha chiếm 29,8%, đất lâm nghiệp có rừng là 566.040 ha chiếm 68,7%; đất nuôi trồng thủy sản là 11.275 ha chiếm 1,3 %; đất nông 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp khác chiếm 1,5%. Có nhiều nhóm đất thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây công nghiệp và cây ăn quả. Thanh Hóa có 4 hệ thống sông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Bạng, sông Yên với tổng chiều dài 881km, tổng diện tích lưu vực là 39.
Ngoài ra còn có một hệ thống ao hồ phong phú: Hồ Yên Mỹ, hồ sông Mực, đập Bái Thượng… và hàng trăm hồ đập nhỏ nằm rải rác ở các vùng. Đây là nguồn cung cấp nước dồi dào cho sản xuất nông nghiệp. Với tất cả các đặc điểm về điều kiện tự nhiên như trên sẽ tạo ra điều kiện để Thanh Hóa phát triển ngành kinh tế đa dạng, trong đó nông nghiệp là ngành chủ đạo. Điều kiện kinh tế, xã hội 1.
Dân số và lao động Theo Niên giám thống kê Thanh Hóa năm 2009, Thanh Hoá có số dân khá đông 3,405 triệu người (đứng thứ 2 sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội); có 7 dân tộc sinh sống là: Kinh, Mường, Thái, H'Mông, Dao, Thổ, Khơ- mú. Mật độ dân số là 306 người/km2. Số dân từ năm 2001 đến nay tương đối ổn định (năm 2001 là 3,463 triệu người, năm 2009 là 3,406 triệu người). Số dân sinh sống ở khu vực nông thôn năm 2009 là 3,049 triệu người, chiếm 89,5% dân số toàn tỉnh.
Lao động đang làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ lệ cao (71% lao động toàn tỉnh) [33; 3]. Nguồn lao động của Thanh Hóa tương đối trẻ, có trình độ học vấn khá, lao động dưới 30 tuổi chiếm tỷ trọng cao. Lực lượng lao động đã qua đào tạo chiếm 27%, trong đó có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 5,4%, trung học 4,0%, công nhân kỹ thuật 12,9% [33; 4] 1. Cơ sở vật chất – kĩ thuật Thanh Hóa có một hệ thống giao thông khá thuận lợi cả về đường sắt, đường bộ và đường thuỷ.
Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bàn Thanh Hoá dài 92km với 9 nhà ga. Đường bộ có tổng chiều dài trên 8.000km, bao gồm hệ thống quốc lộ quan trọng như: quốc lộ 1A, quốc lộ 10 chạy qua vùng 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng bằng và ven biển, đường chiến lược 15A, đường Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng trung du và miền núi; Quốc lộ 45, 47 nối liền các huyện đồng bằng ven biển với vùng miền núi, trung du của tỉnh, quốc lộ 217 nối liền Thanh Hoá với tỉnh Hủa Phăn của nước bạn Lào.600km đường sông, trong đó có 487km đã được khai thác cho các loại phương tiện có sức chở từ 20 đến 1. Cảng Lễ Môn với năng lực thông qua 300.000 tấn/ năm, các tàu trọng tải 600 tấn cập cảng an toàn. Cảng biển nước sâu Nghi Sơn có khả năng tiếp nhận tàu trên 5 vạn tấn, hiện nay đang được tập trung xây dựng thành đầu mối về kho vận và vận chuyển quốc tế.
Hiện tại, Thanh Hóa có sân bay Sao Vàng và đang dự kiến mở thêm sân bay quốc tế sát biển phục vụ cho Khu kinh tế Nghi Sơn và khách du lịch [85; 986] Thanh Hóa có hệ thống công trình thủy lợi tương đối hoàn chỉnh và không ngừng được củng cố: Đập Bái Thượng, hệ thống thủy lợi sông Chu, sông Mã, hệ thống tiêu sông Hoành, sông Lý, Trường Lệ… Công trình thủy điện, hồ chứa nước Cửa Đạt đang được xây dựng ở huyện Thường Xuân là một trong những công trình có quy mô lớn nhất miền Bắc. Mạng lưới cung cấp điện của Thanh Hoá ngày càng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo cung cấp điện ổn định cho sản xuất và sinh hoạt. Năm 2009, điện lưới quốc gia đã có 508km đường dây điện cao thế; 3.908km đường dây điện trung thế, 4.229km đường dây điện hạ thế; 9 trạm biến áp 110/35/6-10 KV; 38 trạm trung gian; 2.410 trạm phân phối. 27/27 huyện, thị, thành phố với 94% số xã phường và 91% số hộ được dùng điện lưới quốc gia [85; 985].
Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho sản xuất nông nghiệp được trang bị ngày càng nhiều, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nếu năm 1996, khu vực nông thôn có 244 đầu máy kéo lớn, 1067 máy kéo nhỏ, 3700 tàu thuyền đánh bắt cá cơ giới, đến năm 2004 đa tăng lên lần lượt là: 875, 5955, 5868 [27; 12]. Ở trong dân, phong trào mua sắm các công cụ phát triển mạnh mẽ ở các huyện trong tỉnh. Ở hầu hết các xã, dân đều tự mua các máy công suất nhỏ như máy làm đất, bơm nước, vận 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển và tuốt lúa để phục vụ cho nhu cầu sản xuất của gia đình và làm dịch vụ cho các hộ xung quanh.
Nhiều gia đình còn đầu tư mua các loại máy gặt đập liên hợp để nâng cao năng suất lao động. Tuy còn ít và tự phát nhưng nó đã phần nào giải quyết được những nhu cầu về máy móc trong tỉnh. Xây dựng và phát triển mô hình hợp tác trong nông nghiệp và nông thôn Thanh Hóa trƣớc đổi mới 1. Trong những năm 1955 - 1957 Từ xa xưa ở nước ta đã có những hình thức hợp tác, tương trợ giữa các hộ nông dân: hội hiếu hỷ, hội làm nhà, hội chơi họ, đổi công sản xuất.
Đây là những hình thức hợp tác giản đơn, theo quy ước không thành văn nhưng được các thành viên thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả cao, trong đó có những hình thức trở thành cơ sở của những hình thức hợp tác trong nông nghiệp sau năm 1945.