Phần mở đầu: Đề cập một số vấn đề chung của đề tài. - Phần nội dung: Chia làm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài Chƣơng 2: Thực trạng các công trình thủy lợi và việc huy động vốn phục vụ đổi mới công nghệ trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng. Chƣơng 3: Một số giải pháp huy động vốn để đổi mới công nghệ các công trình thủy lợi. - Phần kết luận và khuyến nghị.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PH ẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về công nghệ Theo tác giả F. Root: Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới.
“Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh”. Đây là định nghĩa của J. Barason, theo đó bản chất của công nghệ là tập hợp các kiến thức với mục tiêu sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm. Graham: Công nghệ là kiến thức không sờ mó được và không phân chia được và có lợi về kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ.
Tổ chức PRODEC định nghĩa: Công nghệ là mọi loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ. Vậy công nghệ là kỹ năng, thiết bị, phƣơng pháp. Mục tiêu của công nghệ để sử dụng trong sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất và nhƣ vậy, nó đƣợc mua và bán trên thị trƣờng nhƣ một hàng hóa đƣợc thể hiện ở một trong những dạng sau: - Tƣ liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian đƣợc mua và bán trên thị trƣờng, đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tƣ.
- Nhân lực thông thƣờng là có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ cao và có chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị và kỹ thuật và làm chủ đƣợc bộ máy giải quyết vấn đề sản xuất thông tin. - Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thƣơng mại, đƣợc đƣa ra trên thị trƣờng hay giữ bí mật nhƣ một phần của độc quyền. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Định nghĩa này của UNCTAD cho thấy, về bản chất công nghệ là tƣ liệu sản xuất, nhân lực có trình độ và thông tin, có mục tiêu là làm đầu vào cần thiết cho sản xuất. Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, công nghệ đƣợc khái quát nhƣ sau: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm công cụ, phương tiện để biến nguồn lực thành sản phẩm.
Tóm lại: Công nghệ là các giải pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phƣơng tiện để biến nguồn lực thành sản phẩm. Công nghệ trong lĩnh vực thuỷ lợi. Sản phẩm do các công trình thuỷ lợi là những mét khối nƣớc, những khối nƣớc đƣợc đƣa đến nơi tiêu thụ, đó là các vùng trồng cây, các trang trại nuôi trồng thuỷ sản, các khu công nghiệp phục vụ sản xuất và đời sống, các vùng dân cƣ phục vụ sinh hoạt, chăn nuôi. Các quy trình vận hành, các giải pháp, bí quyết vận hành thiết bị công nghệ trên các công trình thuỷ lợi kết quả thu đƣợc là những khối nƣớc do các công trình thuỷ lợi đem lại, đó là những quy trình công nghệ mà ngƣời quản lý, vận hành trên công trình thuỷ lợi thực hiện trong quá trình sản xuất.
Công nghệ trên các công trình thuỷ lợi bao gồm công nghệ dẫn nƣớc từ kênh đất, kênh bê tông, dẫn nƣớc trong ống ngầm, công nghệ tƣới nƣớc tràn, công nghệ tƣới phun mƣa. Công nghệ trên các công trình thuỷ lợi đó là: Các giải pháp sử dụng các thiết bị, các quy trình vận hành máy móc để tạo ra các khối nước nhằm khai thác nguồn lợi về nước phục vụ nông nghiệp ngư nghiệp và phát triển các ngành kinh tế trong khu vực. Đổi mới công nghệ Bài giảng: “Công nghệ và thị trường quản lý công nghệ” Tiến sĩ Trần Ngọc Ca cho rằng: Đổi mới công nghệ bao gồm: Một sáng chế, một ý tƣởng khái niệm hoặc mô hình về một sản phẩm hoàn thiện, một quy trình hoặc một hệ thống. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đổi mới: Tạo ra và phát triển ý tƣởng và đƣa vào áp dụng trong kinh doanh hoặc lĩnh vực khác (Thƣơng mại hoặc thành công một sáng chế).
Mô hình đổi mới Nghiên cứu Nghiên cứu Triển khai cơ bản ứng dụng Đánh giá Chế tạo Tiếp thị đóng gói Tiêu thụ Động lực đổi mới: Mô hình đổi mới công nghệ đẩy R&D Chế tạo Tiếp thị Nhu cầu Động lực tiến hành cơ bản xuất phát từ các công nghệ sẵn có hoặc sự kết hợp giữa các công nghệ mới. Các công nghệ mới có thể cho phép triển khai sản phẩm trƣớc đó cho rằng khó hoặc thậm chí không thể triển khai đƣợc. Mô hình thị trƣờng kéo. Nhu cầu thị R&D Chế tạo Tiếp thị trƣờng đã biết Động lực tiến hành cơ bản xuất phát từ nhu cầu thị trƣờng đã biết rõ (có thể không tồn tại) hoặc nhu cầu thị trƣờng đã biết.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ cải tiến dẫn đến sản phẩm hiện tại chuyển sang sản phẩm mới về cơ bản. Đổi mới công nghệ đó là quá trình tạo ra các giải pháp, các quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phƣơng tiện mà trƣớc đó, ở đó chƣa đƣợc áp dụng để biến nguồn lực thành sản phẩm. Đổi mới công nghệ trong ngành Thuỷ lợi Trong quá trình sản xuất các thiết bị công nghệ trên các công trình thuỷ lợi luôn bị xuống cấp lạc hậu không phù hợp và không đáp ứng đƣợc với yêu cầu trong điều kiện hiện nay làm cho hạn cháy, nạn úng thƣờng xuyên xảy ra. Đổi mới công nghệ trên các công trình thuỷ lợi là tập hợp các giải pháp, các quy trình, bí quyết có hoặc không kèm công cụ bao gồm sáng chế, cải tiến, đầu tư thiết bị mới mà trước đó trên công trình đó chưa có hoặc chưa được áp dụng.
Chính sách Nói đến chính sách là nói đến cách đối xử của chủ thể quản lý đối với đối tƣợng quản lý nhằm đạt mục tiêu của tổ chức.Dye cho rằng: Chính sách công là điều mà mỗi chính phủ chọn để làm hoặc không làm. Guy Petrs cho rằng: Chính sách công là toàn bộ hoạt động của Nhà nƣớc có ảnh hƣởng trực tiếp hoặc giám tiếp đến cuộc sống của công dân. James Anderson cho rằng: Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi, để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm. Vũ Cao Đàm cho rằng: “Chính sách là tập hợp biện pháp được thể chế hoá của một chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm thúc đẩy đối tượng quản lý thực hiện mục tiêu mà chủ thể quản lý vạch ra” Chính sách công là điều mà Chính phủ chọn để làm hoặc không làm để khuyến khích phát triển một nhóm hoặc một tổ chức xã hội đồng thời có tác dụng tới một nhóm, một tổ chức xã hội khác chia sẻ lợi ích, quyền lợi để đạt mục tiêu của Chính phủ.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chính sách riêng là điều mà mỗi địa phƣơng, cơ quan đơn vị lựa chọn của chủ thể quản lý tác động đến đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức trong một phạm vi nhất định. Vậy chính sách đó là tổng hợp các biện pháp do chủ thể quản lý đƣa ra tác động vào đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Chính sách huy động vốn là tập hợp biện pháp đƣợc thể chế hoá của Chính phủ nhằm thực hiện mục tiêu. Đánh giá hoạt động đổi mới công nghệ Đổi mới công nghệ nằm trong hoạt động KH&CN nên nhất thiết phải đánh giá để đề xuất chính sách hợp lý.
Fasella, Giám đốc Uỷ ban Nghiên cứu Khoa học Châu Âu, trong cuốn sách:“Đánh giá các chương trình nghiên cứu và triển khai của cộng đồng Châu Âu” đã đề xuất một số quy ƣớc chung của việc đánh giá R&D: - Quá trình đánh giá cần tiến hành trong mối liên hệ đến việc hình thành và triển khai các giai đoạn của nghiên cứu. - Có thể có đánh giá ngoài và trong. Đánh giá trong (internal evaluation) thƣờng đƣợc thực hiện bởi các nhà quản lý dự án, tham gia trong quá trình thực hiện đề tài. Đánh giá ngoài là đánh giá của các chuyên gia bên ngoài không tham gia vào chƣơng trình nghiên cứu.
Theo Fasella, việc đánh giá có thể đánh giá trong và đánh giá ngoài với những ngƣời không tham gia vào dự án. Dĩ nhiên không có phƣơng pháp đánh giá nào có thể áp dụng cho mọi loại hoạt động R&D. Phƣơng pháp đánh giá cần linh hoạt, cần chú trọng đến tính chất của công việc, quá trình hình thành và diễn biến của công việc. Thông tin phản hồi thƣờng xuyên đảm bảo cho phƣơng pháp đánh giá đƣợc liên tục thích nghi với mọi hoàn cảnh.
điều đó đảm bảo việc cung cấp những đóng góp tích cực trong quá trình quyết định. Hội đồng đánh giá nên ở mức tƣơng đối nhỏ để có đƣợc những thủ tục đủ rộng đảm bảo sự kết hợp các mặt khác nhau của chƣơng trình đánh giá, thông thƣờng từ 6 - 8 ngƣời. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thời điểm đánh giá: Thời gian đánh giá nên bắt đầu từ khoảng giữa của chƣơng trình để có thể đánh đƣợc những việc đã làm trƣớc đó và phần nào đánh giá đƣợc công việc hiện tại và cung cấp thông tin ban đầu một cách kịp thời cho việc chuẩn bị những kết luận của chƣơng trình. Matthe, trong cuốn: “Kinh nghiệm về các phương pháp đánh giá các chương trình R&D của Cộng hoà Liên bang Đức” đã đề xuất một số quan điểm về phƣơng pháp đánh giá về chƣơng trình R&D do nhà nƣớc tài trợ.
Sử dụng chuỗi thời gian (time series) tìm ra sự khác biệt quan trọng trong nhóm mục tiêu trƣớc và sau khi tiến hành nghiên cứu. So sánh nhóm mục tiêu của chƣơng trình nghiên cứu với nhóm đối chứng mà nhóm này không nằm trong mục tiêu nghiên cứu nhƣng có tính chất phù hợp với mục tiêu nhóm này là nhóm đối chứng. Cũng cần kết hợp sử dụng chuỗi thời gian và phân tích cắt ngang trong việc so sánh trong chuỗi thời gian với nhóm đối chứng.