Chương 1. Cơ sở lý luận về đổi mới chương trình đào tạo nghề theo mô hình hệ thống đổi mới quốc gia. Thực trạng chương trình đào tạo nghề tại Trường Trung cấp nghề nấu ăn & nghiệp vụ khách sạn HN. Đề xuất giải pháp thực hiện đổi mới chương trình đào nghề tại Trường TCN Nấu ăn & nghiệp vụ khách sạn HN theo mô hình hệ thống đổi mới quốc gia.
- Kết luận - Khuyến nghị 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỔI MỚI CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ THEO MÔ HÌNH HỆ THỐNG ĐỔI MỚI QUỐC GIA 1. Đổi mới chƣơng trình đào tạo nghề theo mô hình hệ thống đổi mới QG.Khái niệm về “Đổi mới” Đổi mới đươ ̣c xem là hoa ̣t đô ̣ng trong quá triǹ h ta ̣o ra sản phẩ m /dịch vụ thâm du ̣ng tri th ức đươ ̣c thị trường/người sử du ̣ng chấ p nhâ ̣n và đ ảm bảo đáp ứng các điều kiện phát triển bền vững. Thuâ ̣t ngữ đổ i mới có xuấ t xứ gố c từ tiế ng La tinh novatio với nghiã là quá trình đổi mới. Trong tiế ng Anh , tính động từ innovating xem đổ i m ới là mô ̣t hoa ̣t đô ̣ng của các tác nhân đổ i mới.
Mă ̣t khác, đổ i mới không chỉ là hoa ̣t đô ̣ng trong quá trình ta ̣o ra mô ̣t kế t quả mà chính kế t quả cũng đươ ̣c xem là đổ i mới – sản phảm/dịch vụ mới. Theo phổ hoa ̣t đô ̣ng, đổ i mới đươ ̣c xem như mô ̣t tâ ̣p hơ ̣p toàn bô ̣ các giai đoa ̣n trong tiế n trình ta ̣o ra sản phẩ m cuố i cùng , bắ t đầ u từ nghiên cứu khoa học. Cũng có ý kiến của một số học giả cho rằng , đổ i mới có thể /chỉ nên bắt đầ u từ khâu nắ m vững sản xuấ t, phổ du ̣ng công nghê ̣ mới hoă ̣c sản phẩ m mới. Đổi mới là nhu cầu khách quan để phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh hội nhập thị trường và vì vậy được phân biệt theo mức độ tác động của nó tới môi trườn g kinh tế , công nghê ̣ của xã hô ̣i.
Khái niệm về “ Hệ thống đổi mới Quốc gia” Hệ thống đổi mới quốc gia theo nghĩa rộng là một quá trình tích lũy liên tục những đổi mới, cải tiến cơ bản, hấp thụ, sử dụng và ph ổ dụng đổi mới. Xét theo khía cạnh điều tiết khuyết tật của thị trường , nó là công cụ của Nhà 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước để khỏa lấ p những khoảng trố ng công nghê ̣ đòi hỏi đầ u tư lớn , lâu dài cầ n có sự điề u hòa phố i hơ ̣p của Nhà nước. Khái niệm "Hệ thống Đổi mới Quốc gia" lần đầu tiên được Nelson, Freeman và Lundvall đưa ra để tạo cơ sở cho Chính phủ hoạch định và thực hiện các chính sách nhằm tăng cường đổi mới công nghệ. Bảng dưới đây tổ ng hơ ̣p đinh ̣ nghiã của một số học giả chính.
Hê ̣ thố ng đổ i mới là hệ thống có mục tiêu cao nhất là tạo ra các đổi mới , có các thành phần tạo hệ cơ bản gồm 3 phân hê :̣ phân hê ̣ đảm bảo , phân hê ̣ quản lý và phân hệ tạo ra sản phẩm đổi mớ i kể cả các kế t quả R &D, các dự trữ công nghê ̣. Môi trường văn hóa – xã hội Môi trường kinh tế – kỹ thuật kü thuËt Các đòn bẩy khuyến khích Doanh nghiÖp Các hướng dẫn, đảm bảo Cơ sở ha ̣ tầ ng KH&CN Hình 1. Mô hình của hệ thống đổi mới theo OECD Nguồn: Tập bài giảng quản lý đổi mới, Nguyễn Văn Học (2013), Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hê ̣ thố ng đổ i mới không thể hoa ̣t đô ̣ng nế u thiế u yế u tố môi trường (tác nhân hỗ trơ ̣ hoă ̣c cản chở ) hoạt động đổi mới. Đó là những tác nhân xã hô ̣i (Social), công nghê ̣ (Technological), kinh tế (Economical), chính trị (Political), viế t tắ t là STEP.
Chức năng của các phân hê ̣ trong Hệ thống đổi mới quố c gia: Chức năng chính của Chính phủ - Dự báo phát triể n, đánh giá các xu hướng công nghệ, xác lập các ưu tiên phát triển làm cơ sở cho việc hoạch đinh ̣ chính sách đổ i mới; - Hoạch định các chính sách và đi ều phối các hoạt đô ̣ng các ngành liên quan (chính sách kinh t ế thương mại, KH&CN, giáo dục, y tế, môi trường, quốc phòng….); - Giám sát, kiểm tra viê ̣c thực hiê ̣n các chính sách , các kế hoạch liên quan trên; - Dùng sức mua của Chính phủ để khuyến khích sản xuất, cung cấp dịch vụ; - Tôn vinh và cổ súy cho hoa ̣t đô ̣ng đổ i mới và con người đổ i mới. Chức năng của các tổ chức đảm bảo - Hình thành các tổ chức tài chính, ngân hàng, các quỹ mạo hiểm, quỹ phi ngân hàng để tài trơ ̣ cho hoa ̣t dô ̣ng đổ i mới - Phân bổ các nguồn lực, ngân sách cho các ngành KH&CN, các hoạt động theo thứ tự ưu tiên; - Quản lý các hệ thống tài chính phù hợp cho việc thực hiện các chức năng khác của hệ thống; - Thiết lập các chương trình khuyến khích nhằm thúc đẩy đổi mới và các hoạt động KH&CN khác; - Thiết lập, vận hành, duy trì chính sách hoạt động thông tin, các cơ sở thiết bị KH&KT dùng chung; - Thiết lập hệ thống đo lường, tiêu chuẩn và kiểm định quốc gia; - Thiết lập hệ thống quốc gia nhận dạng và bảo vệ sở hữu trí tuệ; 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thiết lập hệ thống quốc gia đảm bảo an ninh, y tế và môi trường; Chức năng của các tổ chức thuộc cơ sở hạ tầ ng KH&CN - Xây dựng hê ̣ thố ng các vườn ươm doanh nghiê ̣p , công nghê ̣ , các science park, khu công nghê ̣ cao , các tổ chứ c KH&CN ma ̣nh , các phòng thí nghiê ̣m thế hê ̣ mới dùng chung cho các hoa ̣t đô ̣ng đổ i mới; - Thực hiện các chương trình KH&CN, gồm tất cả các loại nghiên cứu và phát triển công nghệ, tạo dự trữ công nghệ và đáp ứng nhu cầ u của công nghê ̣. - Thực hiê ̣n chương trình đào t ạo đổ i mới đa lớp về bâ ̣c ho ̣c , về cơ cấ u nghiê ̣p vu ̣ ( có ý tưởng đổi mới, hình thành dự án đổi mới , đánh giá dự án đổ i mới, thực hiê ̣n dự án đổ i mới…); - Thực hiê ̣n các dịch vụ KH&CN; - Thiết lập các hin ̀ h thức liên k ết với doanh ngh iệp – trung tâm của hoa ̣t đô ̣ng đổ i mới; - Liên kết quốc tế về KH&CN. Vai trò của các tác nhân trong hệ thống đổi mới quốc gia, đặc biệt chú ý đến các chương trình đào tạo, trong đó có chương trình đào tạo nghề.
Vai trò trung tâm của doanh nghiệp: Doanh nghiệp là nơi tạo ra sản phẩm đổi mới với tư cách là sản phẩm thâm dụng trí thức được thị trường chấp nhận, có sức cạnh tranh đối với thị trường, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp là nơi đặt ra nhu cầu cho các thành phần khác trong hệ thống, đồng thời nhận được sự hỗ trợ của các phân hệ này. Doanh nghiệp là đối tượng phục vụ của các thành phần khác, trong đào tạo nghề nấu ăn thì doanh nghiệp là các nhà hàng, khách sạn, khu vực nghỉ dưỡng… 1. Khái niệm về đào tạo nghề Theo tài liệu của Bộ Lao động thương binh và xã hội xuất bản năm 2002 thì “đào tạo nghề là một hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để có thể đáp ứng được yêu cầu công việc” [ 3, tr.20] Đào tạo nghề là 2 quá trình có mối liên hệ mật thiết với nhau bao gồm dạy nghề và học nghề.
Dạy nghề: quá trình truyền đạt kiến thức lý thuyết và thực hành giúp người học hình thành kỹ năng, kỹ xảo nhất định về nghề nghiệp; Học nghề: quá trình tiếp thu kiến thức về lý thuyết, vận dụng nó vào thực hành nhằm đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định; Đào tạo nghề là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ hình thành kỹ năng. Có 3 hình thức đào tạo gồm: Đào tạo mới: Là hình thức đào tạo cho người chưa biết gì về nghề, những người đến và trong tuổi lao động chưa biết về nghề; Đào tạo lại: Là hình thức đối với những người đã biết nhưng hiện tại không đáp ứng được nhu cầu của xã hội, hoặc chưa tiếp cận với những tiến bộ kỹ thuật mới; Nâng cao trình độ: Hình thức này chủ yếu dành cho các đối tượng đã có tay nghề, tuy nhiên muốn bồi dưỡng để nâng cao tay nghề hơn nữa, hoặc trong trường hợp muốn nâng bậc thợ. Mục tiêu đào tạo nghề Theo điều 4 Luật dạy nghề quy định: “ Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỉ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tự tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”( Quốc hội-2005, Luật giáo dục, NXB Chính trị Quốc Gia). 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo điều 10 mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp:“ Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của nghề, có ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có thể tự kiếm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên cao hơn”( Quốc hội-2005, Luật giáo dục, NXB Chính trị Quốc Gia).