Phần mở đầu Nội dung nghiên cứu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách nhân lực KH&CN theo định hướng dự án Chƣơng 2: Thực trạng chính sách nhân lực KH&CN của Việt Nam Chƣơng 3: Chính sách định hướng theo dự án trong chính sách nhân lực KH&CN Việt Nam Kết luận và khuyến nghị 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH NHÂN LỰC KH&CN THEO ĐỊNH HƢỚNG DỰ ÁN Dẫn nhập 1.1 Nguồn nhân lực KH&CN 1.1 Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực xã hội là lực lượng lao động, những năng lực về thể chất và trí tuệ để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ cho kinh doanh, hay còn có định nghĩa khác là toàn bộ số lượng người có thể làm việc khi cần thiết. Xem xét dưới góc độ nguồn nhân lực trong quan hệ với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực tỏ rõ vai trò quyết định của mình. Điều này thể hiện ở chỗ các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý.
tự nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng. Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa khi được kết hợp với nguồn nhân lực, thông qua hoạt động có ý thức của con người. Vì con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ý chí, biết sử dụng các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại với nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt là công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Các nguồn lực khác là những khách thể, chịu sự cải tạo, khai thác của con người và hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người, nếu con người biết cách tác động và chi phối chúng.
Theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia, trong các điều kiện để tiến hành thành công công nghiệp hoá thì nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực KH&CN đóng vai trò quan trọng, quyết định đối với không chỉ mỗi quốc gia, mà có nghĩa quan trọng với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Quan niệm cũ cho rằng sự giàu có và sức mạnh của một quốc gia, một dân tộc thường được hiểu đồng nghĩa với sự phong phú, giàu có của các nguồn tài lực hoặc được đánh giá thông qua khối lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Còn ngày nay, nhờ những thành tựu to lớn của KH&CN, sự giàu có của mỗi nước không chỉ đơn giản đo bằng khối lượng của cải, tài nguyên thiên nhiên. Một quốc gia nghèo về của cải tự nhiên vẫn có thể trở thành một nước giàu mạnh, nếu có chiến lược phát triển đúng cùng với nguồn nhân lực có chất lượng cao và được khai thác 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp lý, các nước công nghiệp mới châu Á là những minh chứng xác thực cho điều này.
Các nước và vùng lãnh thổ như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông đều không giàu về tài nguyên thiên nhiên cũng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan đều không có mỏ than hay mỏ sắt nhưng lại xây dựng được ngành luyện kim hùng hậu vào bậc nhất thế giới, trong khi một số quốc gia ở châu Phi có nhiều điều kiện thuận lợi về tài nguyên khoáng sản thì đến nay vẫn không xây dựng được công nghiệp luyện kim. Nguồn nhân lực của xã hội thể hiện tiềm năng của một quốc gia về con người, kể cả những người hiện tại chưa có việc làm, thất nghiệp và cả trẻ em trong các trường học. Như vậy, nguồn nhân lực của một tổ chức là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực xã hội, bao gồm tất cả những ai làm việc cho tổ chức hoặc những người chờ đợi để làm việc cho tổ chức (nguồn dự trữ). Nguồn nhân lực mỗi tổ chức có những đòi hỏi, yêu cầu riêng tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc của tổ chức đó.
Đây chính là lý do vì sao mỗi tổ chức phải có chiến lược, kế hoạch phát triển nguồn lực cho chính mình một cách hợp lý. Mặt khác, khi nguồn nhân lực xã hội có thể đáp ứng được yêu cầu của tổ chức, thì tổ chức đó có thể sử dụng chúng. Cạnh tranh để có được nguồn nhân lực xã hội phù hợp với yêu cầu của tổ chức là xu thế chung của thế giới trong nhiều năm qua và tiếp tục thúc đẩy cạnh tranh trong thời gian tới, dưới nhiều dạng khác nhau như: cạnh tranh nhân tài, cạnh tranh lao động có tay nghề cao, cạnh tranh lao động có chi phí rẻ. Cắt nghĩa một cách rõ ràng hơn thì nhân lực “là nguồn lực của mỗi con người, bao gồm thể lực, trí lực”.
Như vậy, nguồn nhân lực có thể được hiểu là: - Nguồn nhân lực là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội” - Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. - Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Theo thuyết kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động…. và trong điều 6 Bộ luật lao động quy định, “người lao động là người có ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và giao kết cộng đồng”.2 Nguồn nhân lực KH&CN Nhân lực KH&CN được phát triển trên nền tảng của nguồn nhân lực. Đến lượt mình nhân lực KH&CN góp phần nâng cao chất lượng và số lượng nguồn nhân lực.
Điều đó giải thích tại sao trước khi đi sâu vào nghiên cứu nhân lực KH&CN chúng ta cần xem xét, khảo sát những vấn đề chung nhất về nguồn nhân lực. Trong lý luận về quản lý KH&CN, việc xác định chính xác, hợp lý và thống nhất khái niệm “nhân lực KH&CN” có một ý nghĩa rất quan trọng. Trước tiên nó có ý nghĩa về mặt nhận thức, tạo cơ sở cho sự hiểu biết thống nhất trong phạm vi toàn xã hội; thuận lợi cho công tác quản lý, phân loại, bố trí sử dụng hợp lý; tạo cơ sở cho công tác thống kê KH&CN. Thuật ngữ nguồn nhân lực KH&CN ở nhiều quốc gia chủ yếu để xây dựng kế hoạch phát triển nhân lực và xác định cung - cầu về nhân lực KH&CN.
Nguồn nhân lực KH&CN có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng đều hàm chỉ đội ngũ lao động có trình độ tay nghề trở lên có tham gia vào hoạt động KH&CN, thuật ngữ này đôi khi tương đồng với thuật ngữ nhân lực KH&CN. Tuy nhiên, có trường hợp quan niệm không tương đồng bởi họ quan niệm nhân lực KH&CN bao gồm đội ngũ có trình độ và tay nghề bao gồm đang hoạt động trong nền kinh tế. Còn nguồn nhân lực KH&CN còn có thêm lực lượng tiềm năng về tay nghề, trình độ. OECD coi nguồn nhân lực KH&CN tương đồng với nhân lực KH&CN và bao gồm cả lực lượng hiện đang hoạt động cũng như ở dạng tiềm năng.
Để có thể dẫn ra một khái niệm hoàn chỉnh về nguồn nhân lực KH&CN, cần thiết phải xem xét các môđun thành tố của hệ thống KH&CN. Nói chung hệ thống KH&CN bao gồm 4 modules sau: - Tạo công nghệ. - Áp dụng công nghệ. - Môi trường chính sách.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Cơ sở hạ tầng. Tạo công nghệ bao gồm nghiên cứu, sáng tạo để làm ra công nghệ trong nước và nắm vững, tinh thông công nghệ nhập ngoại (thử nghiệm, thích nghi và hoạt động thương mại công nghệ). Áp dụng công nghệ là sự nắm vững thiết kế và kỹ thuật, nắm vững công nghệ, xây dựng xí nghiệp, thử nghiệm, vận hành để đi tới quá trình sản xuất liên tục và ổn định. Môi trường chính sách bao gồm cơ cấu chính sách, công cụ kế hoạch hoá, những luật lệ và thể chế.
trong việc thực thi chính sách về tài chính, các phương tiện vật chất và chế độ kích thích. Cơ sở hạ tầng bao gồm các tiêu chuẩn, cấp phát tài chính, các tổ chức tư vấn và công trình, các cơ quan về an toàn công nghiệp. Có 2 cách tiếp cận được sử dụng để phân loại nguồn nhân lực KH&CN, và cách thông thường nhất là chia theo công việc và cách khác là chia theo trình độ bằng cấp chính thức. Mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng.
Phân loại theo công việc phản ánh việc sử dụng hiện tại của các nguồn tài nguyên và do đó là hữu ích hơn cho việc phân tích hoạt động KH&CN. Phân loại theo trình độ bằng cấp có vai trò quan trọng để phân tích rộng hơn, ví dụ như lập cơ sở dữ liệu tổng số nhân lực và dự báo nhu cầu và nguồn cung cấp nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao. Cách tiếp cận theo nghề nghiệp là tuy nhiên thích hợp hơn cho so sánh quốc tế với số lượng nhân viên làm việc trong lĩnh vực KH&CN. Theo định nghĩa của UNESCO Nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ.
the total number of people participating directly in S&T activities in an institution or unit, and, as a rule paid for their services. This group should include scientists and engineers, technicians and auxiliary personnel.eu/statistics_explained/index.php/Glossary:Scientific_and_technical_personnel 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, định nghĩa của UNESCO không phân biệt nhân lực KH&CN theo bằng cấp mà phân biệt theo công việc hiện thời. Theo định nghĩa của OECD (Organization for Economic Co-operation and Development - Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) OECD định nghĩa nhân lực KH&CN dựa trên trình độ và công việc. Theo OECD, nguồn nhân lực KH&CN là những người đáp ứng được một trong hai điều kiện sau: - Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo) - Không được đào tạo chính thức nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên.
Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc.