Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Đô thị hóa và vấn đề người nghèo Quận 8" được tác giả Lê Thụy Trúc Quyên thực hiện năm 1996 tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của PTS. Nguyễn Kim Hồng và cô Phạm Thị Xuân Thọ. Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Địa lý kinh tế - xã hội, kết hợp giữa phương pháp luận địa lý đô thị và phương pháp điều tra xã hội học thực chứng.

Bối cảnh nghiên cứu được đặt trong giai đoạn đầu của công cuộc Đổi mới tại Việt Nam, khi nền kinh tế chuyển dịch từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường nhiều thành phần, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng tại các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh đã làm nảy sinh tình trạng phân hóa giàu nghèo sâu sắc và tạo áp lực lớn lên hệ thống an sinh xã hội. Trong bức tranh chung đó, Quận 8 nổi lên như một địa bàn đặc thù: là vùng ven nội thành mang sắc thái nửa nông thôn nửa thành thị, hệ thống tự nhiên có nhiều kênh rạch chia cắt, điều kiện thổ nhưỡng trũng thấp nhiễm phèn mặn, và là nơi tập trung mật độ cao người lao động nghèo sống dựa vào các hoạt động kinh tế phi chính thức (bốc vác bến bãi, đạp xích lô, buôn bán nhỏ, nhặt phế liệu, bán vé số).

Văn bản xác định 3 mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Vận dụng lý luận đô thị hóa trên thế giới và kinh nghiệm của các nước phát triển, đang phát triển vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.
  2. Phân tích các đặc điểm của "dân nghèo đô thị" tại Quận 8.
  3. Làm rõ xu hướng phát triển của đường lối công nghiệp hóa đất nước và những tác động sâu sắc của nó đến vấn đề "người nghèo đô thị".

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề đô thị hóa và thực trạng nhóm dân nghèo đô thị.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (gồm 16 phường, đặc biệt là các phường có tỷ lệ nghèo cao như phường 6, 7, 8, 15, 16).
  • Phạm vi thời gian và nguồn số liệu: Chủ yếu khai thác số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1989, các niên giám thống kê giai đoạn 1990–1995, và số liệu cuộc điều tra nghèo đói tháng 02/1995 do Phòng Thống kê cùng Phòng Thương binh Xã hội Ủy ban nhân dân Quận 8 thực hiện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Tác giả đã tổng hợp và vận dụng hệ thống lý luận địa lý đô thị và kinh tế học phát triển:

  • Tiêu chí định nghĩa đô thị: Dẫn chiếu quy định phân loại đô thị tại Quyết định ngày 05/05/1990 của Hội đồng Bộ trưởng trên cơ sở Chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật Nhà nước 28A (Đề tài 28A.01), xác định đô thị là điểm dân cư đạt quy mô tối thiểu từ 4.000 người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 60% trở lên và giữ vai trò trung tâm kinh tế - xã hội vùng.
  • Lý luận phân công lao động và đô thị hóa: Luận điểm của B. Alaev (1983) về sự biến hóa của khoa học và hoạt động phi nông nghiệp thành lực lượng sản xuất trực tiếp thúc đẩy tập trung hóa đô thị.
  • Quan điểm sinh thái - phát triển (eco-development): Lý thuyết của Miles (1979) về ba áp lực sinh thái (bùng nổ dân số, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường) gây biến dạng tiến trình đô thị hóa tại các nước đang phát triển.
  • Mô hình phân kỳ đô thị hóa: Sơ đồ đường cong đô thị hóa ba giai đoạn của Ray M. Northam (1975) (giai đoạn sơ khởi, giai đoạn tiến triển 25%–70%, giai đoạn kết/chín muồi trên 70%) và mô hình dịch chuyển ba khu vực kinh tế của J. Fourastier (văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh tin học).
  • Lý thuyết khu vực kinh tế phi chính thức (informal sector): Dẫn xuất từ các chương trình của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Liên Hợp Quốc từ năm 1972, nhìn nhận khu vực phi chính thức như một van an toàn hấp thu lao động thu nhập thấp.
  • Khung phân loại chuẩn nghèo: Vận dụng hệ thống định lượng theo giá trị quy đổi gạo và thu nhập bình quân (tính theo mặt bằng giá năm 1992–1993):
Tiêu chí phân loại nghèo Chuẩn quy đổi theo gạo (kg/người/tháng) Mức thu nhập khu vực nông thôn (đồng/người/tháng) Mức thu nhập khu vực đô thị (đồng/người/tháng)
Đói gay gắt Dưới 8 kg Dưới 13.000 đ Dưới 16.300 đ
Thiếu đói Dưới 12 kg Dưới 20.400 đ Dưới 24.500 đ
Nghèo tuyệt đối Dưới 15,1 kg (mức tối thiểu) Dưới 25.000 đ Dưới 30.000 đ
Nghèo phát triển Dưới 30 kg — —
Nghèo tương đối Dưới mức trung bình cộng đồng Không quy đổi cố định Không quy đổi cố định
Nghèo đói kinh niên Kéo dài liên tục nhiều năm — —

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp thông tin: Phân tích tài liệu lưu trữ, văn bản pháp quy, niên giám thống kê và các ấn phẩm báo chí chuyên ngành.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý và lập bảng số liệu thứ cấp từ Phòng Thống kê và Phòng Thương binh Xã hội UBND Quận 8.
  • Phương pháp điều tra thực địa và phỏng vấn: Thực hiện khảo sát thực tế, phỏng vấn sâu nhân dân và cán bộ lãnh đạo địa phương; phân tích mẫu chuyên sâu 198 người dân cư trú tại các khu nhà ổ chuột.
  • Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Trực quan hóa cơ cấu kinh tế, biểu đồ phân loại hoạt động dân cư và bản đồ phân bố mật độ dân cư giữa các phường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương mở đầu

Xác định tính cấp thiết của đề tài khi Quận 8 đứng trước sức ép đô thị hóa tự phát. Tác giả xác lập 5 quan điểm nghiên cứu cốt lõi:

  1. Mức thu nhập là chỉ tiêu hàng đầu nhưng cần gắn liền với các biến số về nhà ở, môi trường, độ ổn định việc làm và mức độ hưởng dụng dịch vụ cơ bản.
  2. Mức sống của người nghèo gắn chặt với tính cơ động, đa dạng và bất trắc của khu vực kinh tế phi chính thức.
  3. Phụ nữ và trẻ em dưới độ tuổi lao động đóng vai trò là nguồn tạo thu nhập quan trọng trong hộ nghèo.
  4. Cơ chế thị trường tạo nguy cơ đẩy người nghèo vào tình trạng bị "ngoại biên hóa" về mặt hưởng dụng phúc lợi nhà đất.
  5. Cộng đồng dân nghèo sở hữu tiềm năng nội lực tự cải thiện chỗ ở nếu có chính sách "tạo điều kiện thuận lợi" có trọng điểm của Nhà nước.

Chương I: Một số vấn đề phương pháp luận

Trình bày hệ thống lý luận đô thị hóa thế giới và đặc thù Việt Nam. Phân tích quá trình đô thị hóa gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp, sự hình thành các chùm đô thị (urban agglomerations) và siêu đô thị (megacities). Tại các nước đang phát triển, tốc độ đô thị hóa vượt trước công nghiệp hóa, xuất hiện hiện tượng "đô thị hóa không kiểm soát" hình thành các xóm lều (squatter settlements) chiếm 40%–50% dân số đô thị ở Châu Phi, Mỹ Latinh và 25%–33% ở Nam Á, Đông Nam Á.

Về lịch sử đô thị Việt Nam:

  • Thời cổ - trung đại: Đô thị khởi đầu từ trung tâm hành chính - quân sự ("Thành" trước "Thị"), chịu ảnh hưởng của tư tưởng trọng nông ức thương và cơ chế tự cấp tự túc của làng xã, dẫn đến hiện tượng "nông thôn hóa đô thị".
  • Thời kỳ cận - hiện đại: Đô thị hóa bị gián đoạn do chiến tranh. Miền Bắc phát triển đô thị công nghiệp nhưng bị tản cư trong chiến tranh phá hoại; miền Nam chịu chính sách "đô thị hóa cưỡng bức" gom dân vào Sài Gòn (dân số Sài Gòn tăng từ 300.000 lên hàng triệu người).
  • Giai đoạn sau 1975: Quá trình giải đô thị hóa đưa 800.000 người rời Sài Gòn về quê hoặc đi kinh tế mới (1975–1978), sau đó là làn sóng tái nhập cư và tăng dân số cơ học từ năm 1986. Năm 1993, Thành phố Hồ Chí Minh chỉ chiếm 0,6% diện tích và 6,5% dân số nhưng đóng góp 18,2% GDP, 31,3% giá trị sản xuất công nghiệp và chiếm 22,7% tổng dân số đô thị cả nước.

Chương II: Khái quát Quận 8

Cung cấp bức tranh toàn diện về tự nhiên và kinh tế - xã hội Quận 8:

  • Tự nhiên: Diện tích 18,8 km² (chiếm 0,91% diện tích Thành phố), gồm 16 phường. Địa hình trũng thấp, cao độ trung bình 1,2 m (thấp nhất 0,3 m tại Phường 7, cao nhất 2,0 m tại Phường 2). Hệ thống thủy văn gồm 23 kênh rạch lớn nhỏ với tổng chiều dài 105,9 km, diện tích mặt nước thoáng 420 ha (kênh rạch chiếm 300 ha). Đất đai hầu hết nhiễm phèn nặng (Phường 7) và phèn mặn. Mực nước ngầm nông (0,5–0,7 m), chịu ảnh hưởng mạnh của bán nhật triều (triều bình quân cao nhất 1,10 m, thấp nhất 0,38 m).
  • Dân cư và lao động: Dân số năm 1989 là 255.702 người (người Kinh chiếm 86,20%, người Hoa chiếm 13,19%, nữ chiếm 53,51%). Đến năm 1995 có 54.000 hộ, trong đó dân số không có hộ khẩu thường trú cư trú thực tế là 61.496 người (chiếm 20,6% tổng số). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 15,6‰ (1990) xuống 13,5‰ (1994). Năm 1994, toàn quận có 185.115 người trong độ tuổi lao động (chiếm 61,99% dân số), trong đó có việc làm chiếm 68,9%, chưa có việc làm chiếm 8,09% (14.971 người), nội trợ chiếm 8,5%, đang đi học chiếm 3%, mất sức lao động chiếm 2,2%.
  • Cơ sở hạ tầng và đời sống: Hạ tầng kỹ thuật lạc hậu với 73 tuyến đường dài 109,9 km (chỉ 33 đường nhựa, 40 đường cấp phối); 44 cầu (nhiều cầu xuống cấp nặng như cầu số 2, số 3, Hiệp An, Phát Trăn). Hệ thống điện có trạm Chánh Hưng 2x60 MVA nhưng còn 21.000 hộ chưa có điện kế riêng, mức tiêu thụ bình quân 250 kWh/người/năm. Toàn quận có 40.067 căn nhà, trong đó có 6.000 căn lụp xụp, 4.800 căn nhà chòi trên và ven kênh rạch (tập trung tại Kênh Đôi, Kênh Bến Nghé, Rạch U Cây) và 200 căn nhà xây dựng bất hợp pháp tập trung tại Phường 1, Phường 16. Mức chi tiêu bình quân đầu người năm 1994 là 240.000 đồng/tháng (chi ăn uống chiếm 68%).

Chương III: Đô thị hóa và vấn đề người nghèo ở Quận 8

Phân tích chi tiết dữ liệu điều tra thực chứng tháng 02/1995 trên mẫu 4.801 hộ nghèo (31.475 nhân khẩu) và mẫu khảo sát nguồn gốc nhập cư 198 người:

Nhóm nguyên nhân dẫn đến đói nghèo Tỷ lệ số hộ nghèo (%) Ghi chú từ khảo sát văn bản
Có nghề nghiệp nhưng thiếu vốn sản xuất 53,43% Nguyên nhân chủ đạo, người dân có tay nghề nhưng không có tư liệu/vốn
Có sức lao động nhưng thiếu việc làm 19,14% Chiếm 20,26% số nhân khẩu nghèo
Gia đình đông con nhỏ 11,27% Chiếm 13,55% số nhân khẩu nghèo
Bệnh tật nặng, tàn tật, già yếu neo đơn — Thuộc nhóm nguyên nhân chiếm tỷ lệ nhỏ
Đi kinh tế mới thất bại quay trở về — Khó khăn tái thích nghi, thiếu tư liệu sinh kế
Hỏa hoạn, thiên tai và nguyên nhân khác — Tổng các nhóm yếu tố phụ chiếm khoảng 8,07%–16,16%

Về nguồn gốc cư trú của dân nghèo (khảo sát n = 198 người):

  • 63,1% người được hỏi sinh ra trực tiếp tại địa bàn Quận 8.
  • 36,9% là người nhập cư từ nơi khác đến qua nhiều giai đoạn (trong đó 32,5% nhập cư vào giai đoạn chiến tranh 1955–1975; một bộ phận nhỏ nhập cư từ trước 1955 từ các vùng Cần Đước, Cần Giuộc theo đường thủy ghe thuyền lên làm ăn rồi định cư ven sông).
  • Tỷ lệ tiếp nhận dân nhập cư mới trong 40 năm của Quận 8 thấp hơn các quận trung tâm và phía Bắc thành phố.

Về thực trạng xã hội: Trình độ học vấn của người nghèo rất thấp, tỷ lệ trẻ em bỏ học cao để đi bán vé số, đánh giày, lượm ve chai phụ giúp gia đình. Nhà ở chật hẹp, diện tích bình quân thấp, môi trường nước kênh rạch đen đặc, hôi thối, ô nhiễm nghiêm trọng, phát sinh nhiều nguy cơ dịch bệnh và hỏa hoạn.

Chương IV: Ảnh hưởng của kinh tế - xã hội Thành phố Hồ Chí Minh

Phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh với Quận 8 trên các phương diện:

  • Văn minh xã hội: Lối sống đô thị hóa thâm nhập vào các khu dân cư nghèo nhưng cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ tạo ra sự tương phản sâu sắc giữa lối sống đô thị hiện đại và các xóm nghèo ven rạch.
  • An ninh trật tự: Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm thúc đẩy nguy cơ phát sinh tệ nạn xã hội, cờ bạc, mất trật tự công cộng.
  • Giao thông vận tải: Hệ thống kênh rạch bị bồi lắng, lấn chiếm làm giảm năng lực giao thông thủy; đường bộ hẻm ngoằn ngoèo gây cản trở cứu hỏa và lưu thông.
  • Biện pháp quản lý: Đề xuất chính quyền tăng cường quản lý hộ tịch, chấn chỉnh trật tự xây dựng, kiểm soát việc lấn chiếm dòng chảy kênh rạch và giải quyết tệ nạn xã hội tại các địa bàn phức tạp.

Chương V: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các đặc trưng của quá trình đô thị hóa Quận 8 và đề xuất các nhóm giải pháp:

  • Hỗ trợ vốn vay ưu đãi phục hồi sản xuất cho 53,43% số hộ nghèo thiếu vốn.
  • Phát triển mạng lưới dạy nghề, tạo việc làm tại chỗ thông qua tiểu thủ công nghiệp và hợp tác xã.
  • Quy hoạch di dời và chỉnh trang 4.800 căn nhà ven và trên kênh rạch, đầu tư cấp thoát nước và mở rộng mạng lưới điện kế sinh hoạt cho 21.000 hộ dân chưa có đồng hồ điện riêng.

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Kết quả chính từ số liệu thực chứng

  1. Minh chứng nguyên nhân nghèo đói đô thị mang tính cấu trúc: Nghiên cứu bác bỏ định kiến cho rằng nghèo đói chủ yếu do lười biếng hay hoàn cảnh cá nhân đặc biệt. Kết quả điều tra 4.801 hộ nghèo khẳng định 53,43% hộ nghèo là do "thiếu vốn làm ăn" dù có nghề nghiệp, và 19,14% do "thiếu việc làm" dù có sức lao động.
  2. Làm rõ cấu trúc nguồn gốc dân cư: Khảo sát 198 mẫu chỉ ra 63,1% dân nghèo sinh ra tại chỗ, cho thấy tình trạng nghèo đói tại Quận 8 là vấn đề tích tụ nội tại kéo dài qua nhiều thế hệ đô thị hóa dở dang, chứ không đơn thuần do dòng người nhập cư ồ ạt sau Đổi mới.
  3. Định lượng thực trạng hạ tầng và nhà ở: Thống kê chi tiết 4.800 căn nhà chòi trên kênh rạch, 6.000 căn lụp xụp, 21.000 hộ chưa có điện kế riêng và tỷ lệ chi tiêu cho lương thực thực phẩm chiếm tới 68% trong tổng thu nhập bình quân 240.000 đồng/người/tháng.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Về vốn và sinh kế: Nhà nước và các tổ chức tín dụng cần thành lập quỹ tín dụng vi mô, giải quyết nhu cầu vốn nhỏ không cần thế chấp tài sản lớn cho các hộ tiểu thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ.
  • Về đào tạo và giải quyết việc làm: Mở rộng trung tâm dạy nghề Quận 8 (năm 1994–1995 chỉ tuyển dạy được 489 học viên), kết nối các doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã trên địa bàn để giải quyết việc làm cho 14.971 người đang thất nghiệp.
  • Về quy hoạch môi trường - nhà ở: Xây dựng phương án di dời từng bước các khu nhà ven Kênh Đôi, Kênh Bến Nghé, Rạch U Cây; cải tạo nạo vét 105,9 km kênh rạch để khôi phục giao thông thủy; mở rộng trạm y tế và trường học tại các phường 15, 16.

Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn

Tác giả đã vận dụng thành công phương pháp tiếp cận địa lý kinh tế - xã hội vào việc nghiên cứu vi mô một phân tầng xã hội cụ thể ở cấp quận; kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết đô thị hóa của Ray M. Northam, Miles, B. Alaev với thực tiễn phân hóa xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh những năm đầu thập niên 1990.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế được tác giả nêu rõ: Do hạn chế về thời gian và kinh phí thực hiện trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp, nghiên cứu chưa thể bao quát toàn diện mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của toàn quận, mà chỉ tập trung chuyên sâu vào nhóm "dân nghèo đô thị".
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá diễn biến di biến động dân cư cơ học và tác động dài hạn của các chính sách giải tỏa chỉnh trang nhà ở ven kênh rạch khi Quận 8 hội nhập sâu vào vùng lõi nội thành Thành phố Hồ Chí Minh.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu có giá trị đối với:

  • Sinh viên, học viên ngành Địa lý, Xã hội học đô thị, Đô thị học: Tham khảo về phương pháp kết hợp số liệu điều tra thống kê cấp quận với khảo sát phỏng vấn thực địa để mô tả chân dung xã hội và địa lý dân cư.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử phát triển đô thị Thành phố Hồ Chí Minh: Cung cấp bộ dữ liệu thực trạng kinh tế - xã hội, hạ tầng, nhà ở kênh rạch Quận 8 giai đoạn 1994–1995 (thời điểm trước khi triển khai các dự án nâng cấp đô thị lớn).
  • Cán bộ quản lý an sinh xã hội: Cung cấp căn cứ thực tiễn về cơ cấu nguyên nhân đói nghèo, phục vụ xây dựng các chương trình xóa đói giảm nghèo và tín dụng vi mô.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng đói nghèo của các hộ dân tại Quận 8 năm 1995 là gì?

Theo kết quả điều tra 4.801 hộ nghèo (31.475 nhân khẩu) vào tháng 02/1995 của Quận 8, nguyên nhân lớn nhất là do "có nghề nghiệp nhưng thiếu vốn sản xuất làm ăn", chiếm 53,43% số hộ. Nguyên nhân thứ hai là "có sức lao động nhưng không có việc làm", chiếm 19,14% số hộ.

2. Tỷ lệ dân cư không có hộ khẩu thường trú cư trú thực tế tại Quận 8 năm 1995 là bao nhiêu?

Theo số liệu thống kê của Ban chỉ đạo Quản lý dân số - lao động Thành phố Hồ Chí Minh năm 1995, số nhân khẩu không có hộ khẩu thường trú nhưng thực tế cư trú tại Quận 8 là 61.496 người, chiếm 20,6% tổng dân số thực tế của quận.

3. Thực trạng nhà ở tạm bợ trên và ven kênh rạch ở Quận 8 tại thời điểm nghiên cứu như thế nào?

Toàn quận có 40.067 căn nhà, trong đó có khoảng 6.000 căn nhà lụp xụp, 4.800 căn nhà ven và trên kênh rạch (tập trung tại Kênh Đôi, Kênh Bến Nghé, Rạch U Cây), và khoảng 200 căn nhà xây dựng bất hợp pháp tập trung chủ yếu ở Phường 1 và Phường 16.

4. Kết quả khảo sát 198 mẫu về nguồn gốc cư trú của dân nghèo tại Quận 8 chỉ ra điều gì?

Kết quả cho thấy 63,1% người được hỏi sinh ra trực tiếp tại địa bàn Quận 8; 36,9% là người nhập cư từ nơi khác đến qua các thời kỳ, trong đó nhóm nhập cư đông nhất thuộc giai đoạn chiến tranh 1955–1975 (chiếm 32,5% tổng số người nhập cư).

5. Cơ cấu chi tiêu bình quân của người dân Quận 8 năm 1994 được phân bổ như thế nào?

Với mức chi tiêu bình quân ước tính 240.000 đồng/người/tháng vào năm 1994, cơ cấu chi tiêu gồm: ăn uống chiếm 68%, y tế và bảo vệ sức khỏe chiếm 8,5%, may mặc chiếm 5,5%, giải trí chiếm 2,8%, và các khoản chi khác chiếm 4,5%.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thụy Trúc Quyên là một công trình nghiên cứu địa lý kinh tế - xã hội có tính thực tiễn cao, phản ánh chân thực bức tranh phân hóa xã hội tại Quận 8 dưới tác động của làn sóng đô thị hóa đầu thời kỳ Đổi mới. Bằng việc xử lý nguồn số liệu điều tra chi tiết trên 4.801 hộ nghèo và 198 phiếu khảo sát thực địa, tác giả đã chỉ rõ thực trạng thiếu vốn, thiếu việc làm, nhà ở ven kênh rạch và sự phụ thuộc vào khu vực phi chính thức của người dân lao động. Công trình đã đưa ra hệ thống kiến nghị thực tiễn về tín dụng, việc làm và chỉnh trang đô thị, đóng góp nguồn tư liệu lịch sử - địa lý có giá trị khoa học về vấn đề nghèo đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh giữa thập niên 1990.