MỞ ĐẦU 1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI - TÍNH CAP THIẾT CUA VẤN ĐỀ: Đô thị hóa là một quá trình chuyển hóa, vận động phức tạp, có quy luật về mặt kinh tế - văn hóa - xã hội. là một quá trình phát triển không gian vật thể đa chiểu một tổng hòa sinh thái phát triển đan xen da ngành. Nước ta còn ở giai đoạn đầu của quá trình đô thị hóa, trình độ đô thị hóa còn thấp. Nhưng từ khi nhà nước ban hành chính sách mở cửa, Quá trình chuyển từ nến kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nén kinh tế thị trường nhiều thành phần, đang tác động mạnh mẽ đến quá trình Đô thị hóa.
Quá trình đô thị hóa gắn liển và phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản suất và trình độ quản lý xã hội. Đường lối công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đang có tác động sâu sắc tới tiến trình đô thị hóa, quy hoạch phát triển các đô thị, đặc biệt các đô thị lớn. Trong bối cảnh đó, vấn để * người nghèo đô thị “ trở thành một chủ để quan trọng cẩn xử lý để bảo đảm cho sự phát triển bển vữug, đặc biệt ở các khía cạnh kinh tế, xã hội, nhân văn, môi trường và quy hoạch đô thị. Tình trạng nghèo khổ nói chung và vấn để người nghèo đô thị nói riêng không những là mối quan tắm hàng đẩu của Quận 8, 26 cda là mối quan tâm, nghiên cứu của cả nước.
Thật thế do ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa , nhiều quận của thành phố, người đân còn quá nghèo nàn, cuộc sống khó kuăn, thiếu thốn mọi mặt. Họ phải làm tất cả mọi công việc nặng nhọc, cực khổ như : đạp xích lô, bốc vác, bổ củi mướn v. Kể cả các em nhỏ đang ở tuổi cắp sách đến trường, cũng phải lăn xả khắp mọi nẻo đường thành phố cầu mong bán được những tờ vé số, đánh những đôi giày, lượm từng miếng ve chai để phụ thu nhập cho gia đình và tự kiếm sống cho bản thân. Quận 8 là một trong những quận có số lượng dân nghèo khá cao và những hình ảnh trên khá phổ biến điển hình ở các phường 6,7,8,15,16, v.
Những vấn để này cũng là nỗi trăn trở, suy nghỉ và cẩn làm của các cấp lãnh đạo ở đây. 'Trước tình hình cấp thiết vé “người nghèo đô thị “ của quận 8, phải cần giải quyết ngay. Cho nên dưới sự hướng dẫn của Cô Phạm Xuân Thọ và Thầy Nguyễn Kim Hồng em đã chọn để tài : “ đô thị hóa và vấn để người nghèo Quận 8 “ Việc nghiên cứu vấn để này đóng một vai trò rất quan trọng trong việc góp phần cải tạo phần nào cuộc sống của người nghèo Quận 8. Đồng thời đưa ra một số biện pháp nhằm hạn chế bớt sự nghèo khổ của người dân, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống, cải tiến y tế, văn hóa cũng như giáo đục giúp cho người dân ở đây có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Nghiên cứu Đô thị hóa và vấn để người nghèo Quận 8 là để tài có ý nghĩa nhiều mặt, là đòi hỏi cấp bách của thực tiễn. Song đo những hạn chế về thời gian, kinh phí trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp, nên em không thể để cập đến những khía cạnh khác của quận. Vấn để Đô thị hóa và người nghèo là một vấn để mới mẻ, cần thiết, lý thú nhưng phức tap. Do đó có thé để tài còa nhiểu hạn chế và thiếu sói.
Chúng tôi xin Thdy Cô hướng dẫn cùng các Thấy cô trong khoa Địa lý trường Đại học thông cảm và chỉ bảo thêm, tạo điểu kiện thuận lợi giúp chúng tôi hoàn thành luận văn tốt đẹp. GIỚI HAN PHAM VI NGHIÊN COU Với những lý do của để tài đã chon, chi để cập đến khái quát vấn để Đô thị hóa và đi sầu nghiên cứu người nghèo Quận 8, Mặc đò uuỗi khía cạnh của vấn để này được thể hiện trên nhiều phương diện nhưng ở đây chỉ tập trung nghiên cứu : “ Dân nghèo dé thị * Về nguồn số liệu chủ yếu dựa vào số liệu tổng điểu tra 1994 - 1995 vì đây là nguồn số liệu đẩy đủ nhất. MỤC TIÊU - NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CUA LUẬN VAN. Vận dụng lý luận đô thị hóa thế giới, kinh ngiệm của các nước phát triển - đang phát triển vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
Phân tích các đặc điểm của * đân nghèo đô thị” của Quận 8, 3. Lam rõ xu hướng phát triển của đường lối công nghiệp hóa đất nước có tác động sâu sắc đến vấn để " Người nghèo đô thị *. HỆ QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dé tài nghiên cứu theo các quan điểm sau : 1. Mức thu nhập là một chỉ tiêu hàng đẩu để xác lập mức sống của người nghèo đô thị, song các biến số về trạng thái nhà ở, môi trường, độ ổn định của việc làm, mức độ hưởng dụng các dịch vụ cơ bản có khả năng hỗ trợ cho“ mức sống”.
Mức sống của người nghèo đô thị Quận 8 gắn liển với sự đa dạng, tính cơ động và cả tính bất trắc của “ khu vực phi chính thức ” troag nền kinh tế thành phố. Nét độc đáo của cơ cấu lao động : các hộ gia đình dân nghèo đô thị là phụ nữ cùng với trẻ em dưới tuổi lao động và trong tuổi đi học đang là nguồn tạo thu nhập đáng kể, 4. Trong trạng thái hiện nay của nền kinh tế thị trường và của cơ chế cung - cẩu, nhà đất đô thị , nhóm dan nghèo đô thị đang gặp thách đố nghiêm trọng trước nguy cơ bị “ ngoại biên hóa” về mặt hưởng đụng phúc lợi nhà ở, 5. Các hộ gia đình và các cộng người dan nghèo đô thị Quận 8 đang tiểm tàng nhiều nội lực tại chỗ, tự cải thiện điểu kiện sinh sống và cư trú của mình, chúng sẽ được hiện thực hóa đẩy đủ nếu kết hợp được với hoạt động " tạo điểu kiện thuận lợi” có trọng điểm của nhà nước.
Có một sự phong hóa đáng kể vé phong cách tiêu ding, trang bị và mức đầu tư cải thiện nhà ở giữa các nhóm hộ khác nhau về nghề nghiệp xã hội. * Các phương pháp nghiên cứu : chúng tôi cẩu nhắc kỹ khi sử dụng các phương pháp sao cho thích hợp với từng nội dung cẩn diễn đạt, đảm bảo yêu câu rõ ràng dễ hiểu, đẩy đủ mang tính khoa học. Chủ yếu sử dung các phương pháp sau : + Phương pháp Phân tích thông tio : Thông tin thu được từ nhiều nguồn, niên giám thống kê, báo chí và các phương tiện thông tin, đại chúng khác được sắp xếp kiểm tra mức độ chính xác của các nguồn thông tin và phần loại chúng, phân tích các thông tin này. + Phương pháp điều tra thực địa và đánh giá tổng hợp.
Để có số liệu bổ sung và có những luận cứ đánh giá thực trạng của người nghèo Quận 8,ngoài những số liệu thống kê thu thập được chúng tôi còn tiến hành thực địa, phỏng vấn nhân dân và các cán bộ lãnh đạo, Các kết quả thu thập được là cơ sở để rút ra những đánh giá tổng hợp ban đầu thẩm định lại những nhận định trong quá trình nghiên cứu. + Phương pháp thống kê : Các tài liệu thống kê được chúng tôi thu thập được triệt để khai thác phục vụ cho công việc nghiên cứu. Các tài liệu phẩn lớn được thu thập tại phòng thống kể của Ủy Ban Nhân dân Quận 8 và phòag thương bình xã hội. Các tài liệu trên được chúng tôi thống kê và lên bảng.
+ Phương pháp biểu đổ, bản đổ, Để tiện nghiên cứu và phản ánh kết quả nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứu bằng biểu đổ, bản 44, Troag nghiên cứu này chúng tôi đã có sử dụng biểu đổ tròn đến nghiên cứu khu vực hoạt động kinh tế và phi kinh tế của người dân nghèo Quận 8. Bản đổ phân bố dân cư được xây dựng để thấy rõ sự khác biệt của các phường giàu nghèo. CHƯƠNG |: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN A. BẢN CHAT CUA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA 1.
SƠ LƯỢC VỀ KHÁI NIỆM ĐÔ THỊ Đô thị hóa “tiếng Pháp là urbanisation, tiến Anh là urbanization, di từ gốc tiếng La tinh urbanus ( thuộc về thành phố ), urbs ( đô thị }. Thuật ngữ và khái niệm “46 thị hóa * bất nguồn từ thuật ngữ và khái niệm “đô thị” Cho nên, trong bài viết này chúng ta cần nêu van tắt các quan niệm khác nhau về đô thị. Thanh pho là một khái niệm cơ bản. Những dấu hiệu cơ bản của nó khá thống nhất trong quan niệm của các học giả ở các nước, nhưng giữa các nước lại không thống nhất những chỉ tiêu để phân định một điểm dan cư là thành thị hay nông thôn.
Ở Liên Xô ( cũ ) điểm dân cư đô thị bao gồm các thành phố và các điểm dân cư kiểu thành phố ( thị trấn) có quy mô số dân xác định, thực hiện các chức năng đặc thù chủ yếu là chức năng phi nông nghiệp. Cúc điểm dan cư đô thị lớn bao giờ cũng là các điểm dan cư da chức nắng. Ở hàng loạt nước, các chỉ tiêu chủ yếu để xác định đô thị là : quy mô sO dân, chức năng hành chính, mật độ dan số, mật độ xây dựng , mức đỏ tiện nghi, các chức năng kinh tếquốc dân. Tư cách thành phố củu điểm đản cư được quy định bằng văn bản pháp quy.
Ở nước ta, trong nghiên cứu về đô thị cổ Việt Nam, các nhà sử học xúc định các đô thị cổ dựa trên hai chỉ tiêu chủ yếu : |. Điểm tụ dân cư không chủ yếu sản suất hoặc sinh sống bằng nông nghiệp. Giữ vai trò - nhiệm vu của một trung tâm hành chính - chính trị lớn - nhỏ của một vùng hay của cả nước. Tổng điều tra dân số Việt Nam 1/4/1989 dân số thành thị và nông thôn đã được tính theo quy định tạm thời của Nhà nước.
Khu vực thành thị bao gồm : các quận nội thành, các phường nội thị, các thị trấn được tính là thành thị phải đạt các tiêu chuẩn: dân số từ 2000 người trở lên, dân số phi nông nghiệp 50% trở lên, là trung tâm hành chính hoặc công nghiệp của huyện, Trên cơ sở chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật Nhà nước 2§A ( đề tài 2§A.01) Hội Đồng Bộ Trưởng đã ra quyết định 5/5/1990 về việc phân loại đô thị và phân cấp quản lý đô thị .