Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ 1. Khái niệm đô thị, đô thị hóa * Khái niệm đô thị Trong quá trình hình thành và phát triển không ngừng của xã hội, phương thức sản xuất và kiểu quần cư của con người luôn có sự thay đổi, chất lượng cuộc sống của con người luôn được cải thiện. Từng hình thái kinh tế - xã hội cụ thể sẽ xuất hiện và phát triển kiểu quần cư khác nhau liên quan mật thiết với các nhân tố kinh tế - xã hội, các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, tập quá cư trú của các dân tộc. Có hai loại hình quần cư chủ yếu: nông thôn và đô thị.
Việc phân loại này gắn với sự phân công lao động xã hội theo lãnh thổ, mà trước hết là tách công nghiệp ra khỏi nông nghiệp, dân tới tách thành thị khỏi nông thôn. Như vậy, có thể hiểu đô thị là không gian sống và một hình thức cư trú của con người. Có rất nhiều thuật ngữ để chỉ đô thị. Trên thế giới, các thuật ngữ chỉ đô thị như city, town (tiếng Anh), urbanized area, urban cluster (trong tiếng Mỹ), unité urbaine (“đơn vị thành phố” trong tiếng Pháp).
Ở Việt Nam, các thuật ngữ chỉ đô thị hay được sử dụng là thành phố, thị xã, thị trấn. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học có những nghiên cứu và quan điểm khác nhau về đô thị [21]: Theo Ratzel (1960), quan niệm đô thị là sự tích tụ lâu dài của người và chỗ ở của họ, chiếm một không gian đáng kể và nằm giữa các cộng đồng lớn. Nếu dân số chưa đầy 2.000 người thì điểm dân cư đó mất tính chất đô thị. Theo Richtofen (1968) lại định nghĩa: “đô thị là một nhóm tập hợp những người có cuộc sống không phụ thuộc vào nông nghiệp, mà trước hết dựa vào công nghiệp” và ông cũng cho rằng “người dân đô thị phải dựa trên hoạt động sản xuất phi nông nghiệp và các nhu cầu sinh hoạt của họ chủ yếu do bên ngoài cung cấp”.
Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995) có ghi: Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Phạm Ngọc Côn định nghĩa: “Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội cả nước hoặc của một tỉnh, một huyện”. Về quản lí nhà nước, nội hàm của đô thị, các tiêu chuẩn định lượng đô thị luôn thay đổi cùng với sự phát triển kinh tế xã hội. Thông tư số 34/2009/TT-BXD và luật số 30/2009/QH12 của Quốc hội Luật Quy hoạch đô thị đều đưa ra khái niệm: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn”.
Đối với địa lí học, nghiên cứu sự thay đổi về quy mô dân đô thị, tốc độ tăng dân số đô thị, tỉ lệ dân số đô thị, mức độ đô thị hóa (theo tỉ lệ dân đô thị) và số lượng, cơ cấu lao động phi nông nghiệp. Theo đó, có thể hiểu chung nhất: “Đô thị là nơi tập trung dân cư với mật độ cao, lao động phi nông nghiệp chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu lao động, là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng tương đối đồng bộ, là nơi chứa đựng sự vận động của lực lượng sản xuất và có vai trò như một hạt nhân thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội cho cả nước, cho một tỉnh và một huyện”. * Khái niệm đô thị hóa Đô thị hóa là quá trình vận động, biến đổi phức tạp mang tính quy luật về các mặt kinh tế - xã hội và môi trường, là một trong những đặc trưng nổi bật của nền văn minh nhân loại. Đô thị hóa là hiện tượng kinh tế - xã hội bao gồm các quá trình tăng quy mô dân số đô thị, tăng tỉ lệ dân đô thị cùng với sự chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng nhóm ngành phi nông nghiệp.
Bên cạnh đó, đô thị hóa còn là sự thay đổi không gian đô thị thông qua sự tăng lên số lượng đô thị cùng với sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất đô thị [46]. Theo nghĩa rộng, đô thị hóa là một quá trình lịch sử nâng cao vai trò của đô thị trong sự vận động phát triển của xã hội. Quá trình này bao gồm những thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong phân bố dân cư, trong cơ cấu lao động và nghề nghiệp, trong cơ cấu dân số, trong lối sống, văn hóa, trong tổ chức không gian môi trường sống của cộng đồng. Đô thị hoá là quá trình kinh tế - xã hội, nhân 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khẩu và địa lí đa dạng dựa trên cơ sở các hình thức phân công lao động xã hội và phân công lao động theo lãnh thổ đã hình thành trong lịch sử.
Theo nghĩa hẹp, đô thị hoá là sự phát triển hệ thống thành phố và nâng cao vai trò của nó trong đời sống kinh tế - xã hội cũng như tăng tỉ trọng của dân số đô thị trong nước, trong vùng và trên thế giới. Đó cũng là sự tập trung dân cư trong các thành phố lớn và cực lớn cũng như sự phổ biến rộng rãi lối sống thành thị trong toàn bộ mạng lưới các điểm dân cư. Đô thị hoá là một bộ phận quan trọng của các quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Nó được thể hiện thông qua quá trình chuyển dịch các hoạt động của dân cư từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất công nghiệp hoặc dịch vụ.
Từ đó diễn ra sự chuyển dịch các điểm dân cư nông thôn sang các điểm dân cư đô thị với quy mô khác nhau. Đô thị hoá là sự phản ánh những chuyển biến sâu sắc trong cơ cấu kinh tế và trong đời sống xã hội. Quá trình đô thị hoá gắn liền với sự hình thành và phát triển công nghiệp, là người bạn đồng hành với quá trình công nghiệp hoá. Giữa công nghiệp hoá và đô thị hoá có mối quan hệ hữu cơ, nhân quả khăng khít.
Một mặt, chính sự phát triển và phân bố công nghiệp là cơ sở quan trọng nhất để hình thành và phát triển đô thị. Mặt khác, hệ thống đô thị một khi được hình thành và có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phát triển thì lại trở thành nơi hấp dẫn các hoạt động sản xuất công nghiệp. Hai quá trình này đan xen nhau, dựa vào nhau và có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Đô thị hoá đồng nhất với sự gia tăng về số lượng và quy mô của các thành phố lớn, đồng thời diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu hoạt động của dân cư, kèm theo sự thay đổi lối sống của họ.
Đặc điểm của đô thị hóa Đô thị hóa là một hiện tượng luôn mang tính xã hội và tính lịch sử, đô thị hóa diễn ra song song với công nghiệp hóa và chịu sự tác động mạnh mẽ của bối cảnh toàn cầu hóa trên thế giới. Đô thị hóa là một hiện tượng luôn mang tính xã hội và tính lịch sử. Đô thị hóa là quá trình phát triển về quy mô và số lượng đô thị. Nét nổi bật của quá trình đô thị hóa đang diễn ra trên thế giới là sự gia tăng nhanh chóng số lượng các đô thị lớn (có số dân trên 5 triệu dân), nhất là ở các nước đang phát triển.
Số lượng các đô thị cực lớn (có quy mô từ 10 triệu trở lên) của toàn thế giới cũng tăng lên nhanh chóng từ những thập kỉ cuối của thế kỉ XX, hiện nay có 22 thành phố có trên 10 triệu dân. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc mở rộng diện tích đô thị là do nhu cầu phải mở rộng hoặc xây dựng mới nhiều tuyến đường giao thông, khu dân cư, khu công nghiệp và dịch vụ. Các đô thị nhiều khi còn phải mở rộng ranh giới hành chính. Quá trình này làm cho các đô thị lớn lên và mở rộng phạm vi ảnh hưởng.
Đồng thời với quá trình này, là quá trình chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp thành đất đô thị, gây ra những hậu quả tiêu cực như giảm diện tích đất gieo trồng trong nông nghiệp và làm suy thoái môi trường. Đô thị hóa song song với công nghiệp hóa. Dân cư và lao động di chuyển liên tục nên dẫn đến những thay đổi không ngừng về số dân, cơ cấu dân số và cơ cấu lao động ở các đô thị. Từ khi đô thị xuất hiện cho đến nay, số dân dô thị liên tục tăng với tộc độ nhanh.
Đô thị hóa diễn ra song song với công nghiệp hóa (thường ở giai đoạn đầu của đô thị hóa) và thúc đẩy ngành dịch vụ phát triển (thường ở giai đoạn sau của đô thị hóa). Các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển biểu hiện qua việc tăng tỉ trọng của các ngành đó trong cơ cấu GDP. Khi các hoạt động kinh tế trong đô thị phát triển, nhu cầu về đất để mở rộng không gian sản xuất ngày một tăng lên. Trong khi đó quỹ đất của các đô thị vốn đã hạn hẹp nên phải mở rộng không gian ra vùng ngoại ô, thậm chí mở rộng đến các vùng nông thôn.
Cùng với đó, nhu cầu về nhà ở đô thị cũng tăng lên theo tốc độ tăng dân số đô thị. Vì vậy, trong quá trình đô thị hóa không chỉ diện tích đất đô thị tăng lên, cơ cấu sử dụng đất trong đô thị biến đổi mà khu vực chức năng trong đô thị cũng được mở rộng và phân bố lại. Con người có thể điều khiển những hoạt động kinh tế trong đô thị theo đúng các quy luật khách quan. Bối cảnh toàn cầu hóa tác động ngày càng mạnh đến đô thị hóa.
Ở các nước đang diễn ra đô thị hóa và công nghiệp hóa thường gặp phải một số khó khăn khi hội nhập với nền kinh tế thế giới.