CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu làng Việt: Một số điểm đáng lưu ý Thứ nhất, cho đến nay có một số lượng lớn công trình nghiên cứu về làng Việt Nam nói chung và làng ở đồng bằng sông Hồng nói riêng. Trong gian đoạn nửa đầu thế kỷ XX đã có những công trình nghiên cứu đáng chú ý về làng của các nhà khoa học nước ngoài, như Rouilly (1929), Malot (1903), Gourou (1936).1và các học giả Việt Nam, gồm Phan Kế Bính 2 , Trần Trọng Kim 3 , Nguyễn Văn Huyên (1939), Nguyễn Văn Khoan (1930)… Trên nền tảng học thuật đó, ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XX, các nghiên cứu làng Việt và nhất là làng Việt ở đồng bằng sông Hồng có những bước tiến mới ở các góc độ khác nhau.
Một loạt các công trình nghiên cứu về làng, hay có liên quan đến làng của các tác giả Phan Huy Lê (1959), J. Kleinen (2007),… cho thấy một khối lượng khác lớn các công trình nghiên cứu về làng ở đồng bằng sông Hồng từ truyền thống đến hiện đại. Thứ hai, các nghiên cứu về bản chất làng coi làng là một cộng đồng cư dân, biến đổi không ngừng cùng với biến đổi trong quy ước xã hội theo thời gian [66, tr 25]. Làng có vị trí quan trọng, được tìm hiểu nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn các khía cạnh văn hóa, chính trị, tôn giáo, kinh tế, nghệ thuật… trong cấu trúc tổng thể cấu trúc của làng nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung.
Như vậy, trong nghiên cứu về làng đã có những cách tiếp cận khác nhau, trong đó, các chiều cạnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, lịch sử làng Việt đã được quan tâm phân tích và thảo luận trong nhiều tài liệu nghiên cứu4. 1 Xem một tổng quan tương đối cụ thể, chuyển dẫn từ: Nguyễn Thừa Hỷ (2012). 2 In lần đầu: Phan Kế Bính (1913 - 1914), “Việt Nam phong tục”, Đông Dương Tạp chí, No 24 - 49. 3 In lần đầu: Trần Trọng Kim (1920), Việt Nam sử lược, Trung Bắc tân văn, Hà Nội.
4 Để có một cái nhìn bao quát về sự phong phú của lịch sử vấn đề, xem Thư mục về nghiên cứu làng Việt, bước đầu được đưa ra trong công trình của Nhiều tác giả (2006), Làng Việt Nam, đa nguyên và chặt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ ba, một điểm quan trọng khác là làng truyền thống được nhận định theo những cách không hoàn toàn giống nhau.Ory cho rằng làng xã chính là “một chính phủ cự tộc đầu sỏ (un gouvernement oligarchique), một quốc gia nhỏ bé nằm lọt trong đế quốc Annam. Nhà nước không can thiệp vào những công việc nội bộ làng xã” [dẫn theo: 43, tr 182], thì nhà dân tộc học Nguyễn Văn Huyên cho rằng: “Làng có thể định nghĩa là một tập hợp nhiều gia đình thành một nhóm dân cư, hay tách thành nhiều nhóm. Làng không phải chỉ gồm những người cư trú tại đây, mà cả mọi người gốc tích ở làng và có thể chỉ về làng một hai lần trong đời.
Nhưng những người này có mồ mả tổ tiên, nhà thờ do một người trong “họ” trông nom. Dù thế nào thì đối với một người Việt Nam, bao giờ cũng là vinh dự khi có một làng quê ở tỉnh lẻ. Nếu không, dưới mắt dân làng, họ bị gọi bằng cái từ khá khinh thị là người tứ xứ” [38, tr 817]. Như vậy, làng Việt đã được nhận biết với các đặc tính khác nhau, tùy thuộc vào góc quan sát, sự quan tâm của nhà nghiên cứu.
Những tri thức và cách lý giải về làng bổ sung cho nhau, giúp chúng ta hiểu rõ hơn, nhiều chiều hơn về làng Việt. Thứ tư, một điểm quan trọng khác mà tổng luận tài liệu nghiên cứu của tôi cho thấy, có ít nhất hai thái độ khoa học cơ bản tồn tại trong các quan sát và nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu Việt Nam thế kỷ XX về làng Việt truyền thống nói chung và làng ở đồng bằng sông Hồng nói riêng [66, tr 21 - 23]. Đại điện từ những cái nhìn từ nền học vấn Đông Dương, thời Pháp thuộc là quan điểm phê phán. Quan điểm phê phán nhìn thực thể làng như là một bước cản trở đối với sự phát triển đất nước, cho dù có nhiều điều hay, nhưng làng vẫn là nơi mà rất nhiều hủ tục còn tồn tại.
Làng là nơi chứa đựng sự bè phái, mê tín dị đoan, cường hào sách nhiễu, trọng danh vô lối, tiểu nông tủn mủn… cho nên cần “cải lương hương chính”. Quan điểm phê phán này hiện rõ trong các nghiên cứu làng qua phong tục, tập quán và các thực hành văn hóa. Đại diện cho quan điểm này có tiếng nói phê phán mạnh mẽ nhất chính là Phan Kế Bính, ông nhận xét về làng như sau: “Từ ngày nước Đại Pháp bảo hộ, đem những thói văn minh Âu Tây mà rải rác sang nước ta. Ta ngoảnh lại mà xem những tục cũ thì tỏ ra nhiều điều ngày trước là hay mà bây giờ hóa ra hủ bại lắm rồi”[13, tr 8]1.
Quan điểm tích cực nhìn làng với những ưu điểm. Nếu đặt trong bối cảnh đầu thế kỷ XX, khi Việt Nam còn bị thực dân đô hộ, cả dân tộc đang đứng trước yêu cầu 1 Một cách sinh động hơn nữa, xem sự đả phá của các nhà văn, báo chí đương thời như tuần báo Phong hóa, hay Ngô Tất Tố viết Tập án cái đình và Việc làng, Lều chõng. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com canh tân, tìm đường giành lại độc lập dân tộc như một mục tiêu tối thượng, thì quan điểm phê phán rõ ràng có tác dụng thức tỉnh đối với những gì là lực cản cho cuộc chấn hưng dân trí của đất nước hay ít nhất là một nhóm ưu tú trong xã hội Việt Nam đương thời. Khi lịch sử đã chuyển đổi, Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập, thì một thế hệ các nhà khoa học và ngay cả các nhà quản lý chính sách bắt đầu thấy ở làng, trong không gian mới, những thực hành có các giá trị đáng được phát huy.
Bên cạnh những nguyên nhân khác, đây là yếu tố góp phần hình thành và nuôi dưỡng những cái nhìn và thái độ có thiện cảm hơn, hay thậm chí là đánh giá cao sự hợp lý, tính tích cực của thực thể làng ở các góc độ khác nhau trong xã hội đương đại. Trong số các nhà khoa học có quan điểm tích cực đối với thực thể làng thì Từ Chi nổi lên là một trong những học giả tiêu biểu cho quan điểm này ở Việt Nam. Từ Chi thấy ở làng những tổ chức linh hoạt, duy trì một thứ dân chủ kiểu làng xã. Tiếp đó, trong bối cảnh đổi mới và nhất là khi mục tiêu phát triển bền vững được đề cao, nhiều giá trị văn hóa và một số thiết chế của làng được ca ngợi, tìm cách bảo tồn, phát huy, như các di tích, các nghi lễ, lễ hội,… Như vậy, qua thời gian, các quan điểm về làng chuyền từ cái nhìn với những mặt hạn chế đến những yếu tố tích cực đã và đang tồn tại.
Thực tiễn này khẳng định thời điểm, bối cảnh và góc nhìn của chúng ta đối với thực thể làng. Một tổng quan các nghiên cứu về làng cho thấy làng là một thực thể có những mặt ưu điểm và nhược điểm. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu làng không nhấn mạnh thái quá vào một quan điểm nào mà cần nhìn nhận làng với những chiều cạnh khác nhau. Trong đó, một cái nhìn hiểu được sự tồn tại hợp lý của làng trong bối cảnh lịch sử và đương đại sẽ giúp chúng ta hiểu rõ và tìm được cách phát huy các thế mạnh của văn hóa làng phục vụ sự phát triển Việt Nam hiện tại và tương lai.
Thứ năm là tính đóng hay mở của làng. Từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, các công trình nghiên cứu đã chú trọng hơn tới những biến đổi xã hội của làng Việt. Từ đó, những nghiên cứu khảo tả hay nghiên cứu cộng đồng đã dần dần được thay thế bằng những nghiên cứu về mối liên kết giữa địa phương và các cấp cao hơn với giả định ngầm hiểu rằng làng là một bộ phận của xã hội rộng lớn hơn [46, tr 14]. Sự thực, làng không bất biến mà thường biến.
Điều này không trái ngược với tính tự trị của làng, mà chính là biểu hiện sự hoàn chỉnh của thực thể làng. Bởi hoàn toàn chủ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động, tự trị, làng có thể đối diện với những biến đổi, chọn lựa sự biến đổi để phát triển mà không bị phá vỡ cấu trúc. Đối lập với cách nhìn làng có tính đóng, quan điểm nhấn mạnh tính mở của làng cho phép tư duy về làng trong tính năng động của nó với các thế giới bên ngoài làng [46, tr 9 - 10] [62, tr 29]. Nhà sử học Hà Văn Tấn nhìn thấy tính mở của làng qua các mối quan hệ liên làng, siêu làng (Hà Văn Tấn, 1987).
Làng xã, mà điển hình của nó ở miền Bắc Việt Nam còn thường được phản ảnh trong sự can thiệp của nhà nước, nhằm kiểm soát nguồn lực của làng như đất đai và lao động. Thực tế cho thấy càng nhìn gần với hiện tại thì quan điểm về tính mở của làng càng có nhiều cơ sở thực tiễn hơn. Nghiên cứu có tính hệ thống về di cư nội địa, sự xáo trộn các khối cư dân của làng là thú vị bởi tính linh động và phức tạp của vấn đề (Li Tana, 1996; Nguyễn Văn Chính, 1997). Di dân là một trong những yếu tố không phải là một sự phản kháng của nông dân, mà là con đường tìm kiếm mưu sinh, kết nối làng với xã hội ngoài làng, làm biến chuyển làng, tăng cường sự kết nối liên làng trong xã hội đương đại.
Làng Việt từ góc độ tiếp cận từ không gian Nếu phần trên, tôi tập trung làm rõ một số điểm quan trọng đáng lưu ý trong nghiên cứu về làng Việt thì ở phần này tôi muốn phác họa hướng tiếp cận làng Việt từ góc độ không gian trong tài liệu nghiên cứu. Nghiên cứu về không gian của con người đề cập đến hai lĩnh vực quan trọng, đó là ký ức và địa lý. Said (2000) với nghiên cứu nổi tiếng của mình đã đưa ra những luận điểm độc đáo về mối tương tác giữa sáng tạo, ký ức và không gian trong đó con người tồn tại.