Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở XÃ NGHĨA ĐÔ 1. Điều kiện tự nhiên, xã hội, địa bàn cư trú 1. Điều kiện tự nhiên Xã Nghĩa Đô nằm ở phía Đông Bắc của huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm huyện lỵ 30 km theo trục đường 279, có tọa độ địa lý nằm trong 22o36’ vĩ độ Bắc và 104o25’ kinh độ Đông. Phía Bắc và Đông Bắc giáp xã Bản Rịa và xã Yên Thành (huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang); phía Tây và Tây Nam giáp xã Bản Cái (huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai); phía Tây Bắc giáp xã Tân Tiến, phía Đông và Đông Nam giáp xã Vĩnh Yên (huyện Bảo Yên)1.
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 3. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp có 450 ha, đất lâm nghiệp 400 ha, đất rừng 1.700 ha (trong đó rừng nguyên sinh còn 902 ha), các loại đất khác 92,6 ha. Địa hình xã Nghĩa Đô khá phức tạp, trong đó địa hình núi cao là dạng địa hình chính, chiếm phần lớn diện tích của xã. Cánh cung phía Tây Nam, Tây, Tây Bắc kéo dài từ điểm cao tiếp giáp 4 xã(2) đến đỉnh núi Khau -Thửa giáp xã Tân Tiến (dài hơn 10 km), là khu vực núi liền mạch cao từ 800 đến 1000 mét, có đỉnh Tham Chẩu (Ko Kum) cao 1.
Các dãy núi phía Tây tạo thành lá chắn khổng lồ ôm gọn lấy lòng chảo Nghĩa Đô, tạo ra những đặc điểm khác biệt về khí hậu của Nghĩa Đô so với các vùng liền kề. Khu vực phía Đông của xã cũng có độ cao trên 400 mét, là các mạch núi dài tạo thành từng dãy chạy sang phía Đông và Đông Nam của xã. Từ trung tâm xã Nghĩa Đô nhìn về phía Đông có nhiều đỉnh núi cao, trong đó có những đỉnh cao, nhọn như kim tự tháp, điển hình nhất là chỏm Cấn cao gần 800 mét. Cả hai 1 Trước đây xã Nghĩa Đô bao gồm cả xã Tân Tiến và xã Vĩnh Yên, đến năm 1954 chia thành 3 xã là: Nghĩa Đô, Tân Tiến và Vĩnh Yên.
2 Đó là các xã: Nghĩa Đô, Tân Tiến, Bản Cái, Nặm Lúc. 10 khu núi cao phía Tây và phía Đông chiếm trên 50% diện tích tự nhiên của xã1, trên các dãy núi này là những rừng cây đại ngàn. Đây cũng là khu vực có thảm thực vật hết sức phong phú với loại nhiều loại gỗ quý, có giá trị kinh tế cao như Sến, Táu, Dổi, Lim. nhiều loại cây thuốc nam quý.
Hệ động vật ở đây cũng hết sức phong phú và đa dạng với nhiều loại thú quý hiếm như Gấu, Khỉ, Sơn Dương, Công Trĩ… Loại thứ hai là địa hình các hang núi dốc bắt nguồn từ cánh rừng phía Tây chạy dài xuống thung lũng. Các sườn núi gối nhau liên tiếp đã tạo ra nhiều con khe, con suối nhỏ có độ dốc cao nước chảy quanh năm. Đây là nguồn thuỷ sinh dồi dào phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất của đồng bào các dân tộc vùng đất Nghĩa Đô ngàn đời nay. Loại thứ ba là địa hình đồi núi thấp, là những quả đồi, gò nhỏ nằm giữa những cánh đồng, có độ cao từ 15 m đến 80 m.
Những quả đồi, gò nhỏ này đã chia thung lũng Nghĩa Đô ra thành nhiều cánh đồng, nhiều khu dân cư, đây cũng chính là ranh giới của 16 thôn bản trong cả xã. Loại địa hình thứ tư là địa hình lòng chảo với những cánh đồng bằng phẳng, trù phú thuận lợi cho canh tác ruộng nước. Đây cũng chính là nơi sinh sống, sản xuất chủ yếu và lâu đời nhất của đồng bào các dân tộc trong xã. Địa hình vùng lòng chảo Nghĩa Đô có độ dốc từ 5o đến 15o, thấp dần về trung tâm.
Diện tích vùng lòng chảo khoảng 240 ha, từ lâu đây đã là vùng được mệnh danh là vựa lúa của huyện Bảo Yên. Dạng địa hình thứ năm là hẻm sâu, lòng của các con suối, ngòi. Dạng địa hình này được tạo thành từ các con suối Nặm Hốc, Nặm Đon, Nặm Cằm, Nặm Lẹng, Nặm Lằng. Các con suối này đều đổ về ngòi Nặm Luông2.
Đặc điểm địa hình trên đã tạo cho Nghĩa Đô có hệ thống khe suối phía Tây, phía Bắc dài, to có nước chảy quanh năm, mùa mưa lũ gây ra sự tàn phá 1 Diện tích khoảng 2. 2 Nặm Luông – tiếng tày có nghĩa là Con sông nhỏ giữa lòng núi. 11 đáng kể cho cánh đồng. Còn các con khe, suối, phía đông ngắn nhỏ có nước chảy theo mùa, mùa khô có nhiều khe thiếu nước tạo thành khe cạn.
Do đó, đánh bắt cá đã trở thành một hoạt động kinh tế có vị trí quan trọng trong đời sống của dân Nghĩa Đô. Khí hậu Nghĩa Đô mang tính nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm. Đây là đặc điểm chung của khí hậu huyện Bảo Yên cũng như của miền Bắc nước ta. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20oC đến 23oC.
Tháng nóng nhất lên đến 39oC, tháng lạnh nhất xuống đến 3oC. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.300 mm, cao hơn so với các xã khác trong huyện. Số giờ nắng trong năm ít hơn các nơi khác, cuối mùa đông sang mùa xuân hầu như không có nắng, tổng số giờ nắng hàng năm từ 1. Do đặc điểm địa hình, cánh cung phía Tây dài, uốn cong ôm lấy bồn địa cao hơn dãy núi phía Đông nên về mùa đông, mùa xuân khi các đợt gió mùa đông bắc tràn tới, gặp lá chắn phía Tây cao hơn, kết hợp với gió từ dưới thấp thung lũng thổi ngược từ dưới lên làm cho hơi nước ngưng tụ, gây mưa phùn, mưa nhỏ ở vùng thung lũng kéo dài hết cả đợt gió mùa Đông Bắc.
Cuối xuân đầu hè khi các đợt gió khô, nóng phía Tây thổi tới, cánh cung phía Tây tản gió đó đi hai phía làm cho khí hậu vùng thung lũng mát mẻ hơn các nơi khác. Đặc điểm khí hậu này đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp của vùng: các loại cây cho thân, cho lá, măng, củ phát triển tốt, còn cây ăn quả như cam, mận, nhãn, mơ,. phát triển kém. Do đặc điểm địa hình nên về mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm Nghĩa Đô có khá nhiều đợt mưa lớn, gây ra lũ ống, lũ quét ở các con ngòi, tàn phá mùa màng, ruộng vườn, lở đất nhất là các cánh đồng dọc theo bờ suối ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt và sản xuất của nhân dân các dân tộc.
Do ảnh hưởng cấu tạo địa chất, nên phần lớn đất Nghĩa Đô là loại đất Pheralít màu vàng đỏ, phát triển trên nền đá Gráp điệp thạch mica. Nghĩa Đô 12 là tiểu vùng có dạng núi cao trên 800 m, tạo thành dãy lớn kéo dài, giữa lòng núi có “bồn địa”1 tương đối rộng, có hệ thống đồi, núi thấp (từ 15m đến 80m). Trên sườn đồi núi phía Tây, đất bị bào mòn, phần mòn xốp bị trôi dạt xuống đồng bằng để lại đất vón cục pha cát rất sắc cạnh, tạo nên những cánh rừng có nhiều nhóm gỗ tốt, trắc, đẹp hơn nhiều so với gỗ cùng loại ở nơi khác. Các dãy núi phía Đông, phí dưới tầng đất dày là các tầng đá đen, đá vôi có chất Apatít khá dồi dào, phù hợp cho việc canh tác các loại cây màu như ngô, bông.
Giữa các cánh đồng là đất bồi tụ hỗn hợp qua nhiều thể kỷ tạo sơn, có lớp “trầm tích”2 lắng đọng, có tầng sâu không đồng nhất. Ở chân các sườn đồi, núi tầng canh tác từ 20 cm đến 30 cm; ở giữa cánh đồng, ven các con suối tầng canh tác trên 100 cm, có nơi đến vài mét. Qua nhiều thế kỷ con người cư trú, sinh hoạt và sản xuất chất màu bị rửa trôi rồi lại được phủ tiếp một lượng phù sa đáng kể sau mùa lũ hàng năm của ngòi Nặm Luông, nên chất đất ở đây có độ pH tương đối cao, từ 5,6 đến 8,5. Trên các sườn đồi núi, tầng đất canh tác bị rửa trôi, đất bị bạc màu, độ kết dính giảm.
Các loại cây tự nhiên bị chặt phá qua nhiều thế hệ đã bị cạn kiệt, diện tích rừng nguyên sinh giảm đáng kể, thay vào đó là rừng tái sinh, rừng cỏ tranh, lau lách, cây bụi có thảm thực vật nghèo nàn, đất bị bạc màu có độ phì nhiêu thấp gây ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của đồng bào. Xã hội Về thành phần dân tộc, toàn xã Nghĩa Đô có 5 dân tộc anh em sinh sống: Tày, Kinh, Dao, Nùng và Phù Lá. Trong đó người Tày chiếm 97%, Kinh 1,4%, Dao 1,2%, dân tộc Nùng và Phù lá chiếm 0,4%. Trải qua quá trình lịch sử đấu tranh lâu dài và gian khổ nhằm chế ngự thiên nhiên để sinh tồn và bảo vệ quê hương, các dân tộc cư trú ở Nghĩa Đô 1 Thung lũng rộng, tương đối bằng phẳng.
2 Lớp đất đá, xác thực vật lắng đọng qua nhiều niên đai cấu tạo vỏ trái đất. 13 dù sớm hay muộn, dù đa số hay thiểu số, nhưng đều có truyền thống đoàn kết, gắn bó keo sơn, cùng chung tay góp sức xây dựng quê hương Nghĩa Đô ngày càng giàu đẹp. Các thiết chế truyền thống trong xã hội ở làng bản có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc củng cố, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở. Đáng chú ý là thiết chế dòng họ, nổi bật là vai trò của trưởng họ, già làng được đề cao.
Bên cạnh việc quản lý hành chính bằng pháp luật, mỗi làng, bản đều có luật tục riêng, mọi người đều tôn trọng quy ước, hương ước của bản, làng. Trong điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển hiện nay, các thiết chế truyền thống là di sản quý báu của tất cả các dân tộc trong xã, đặc biệt là người Tày đang ngày càng được phát triển theo định hướng giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống. Năm 2010, xã đã khai trương xây dựng 01 đơn vị văn hóa. Tổng số 14 làng đều được công nhận làng văn hóa, trong đó có 08 làng được công nhận danh hiệu lần thứ 2.
Toàn xã có 609 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, 22 gia đình đạt danh hiệu gia đình thể thao. Hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao ngày càng phát triển và đang trở thành phong trào sâu rộng, được sự ủng hộ nhiệt tình của người dân. Công tác văn nghệ thể thao đã thường xuyên được duy trì các hoạt động văn hóa mang bản sắc dân tộc trong năn đã biểu diễn văn nghệ quần chúng và thi đấu bóng chuyền để chào mừng các ngày lễ lớn trong năm như mừng Đảng, Mừng Xuân và ngày 26/3. Đồng thời tham gia hội diễn văn nghệ quần chúng, các đợt thi do huyện tổ chức tại các cụm và tại huyện.