Độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền kiểm định tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền kiểm định tại việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

2016

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: Lý do thực hiện đề tài

1.1. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

1.2. Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.3. Bố cục nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TIỀN MẶT VÀ DÒNG TIỀN TRONG DOANH NGHIỆP

2.1. Những nghiên cứu lý thuyết về tiền mặt và dòng tiền

2.1.1. Lý thuyết đánh đổi (The trade-off model)

2.1.2. Lý thuyết trật tự phân hạng (The pecking order theory)

2.1.3. Lý thuyết dòng tiền tự do (The free cashflow theory)

2.2. Nghiên cứu thực nghiệm về tiền mặt và dòng tiền

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

3.1. Phương pháp ước lượng

3.2. Giả thuyết nghiên cứu

3.3. Mô hình nghiên cứu

3.3.1. Mô hình thực nghiệm cơ bản

3.3.2. Mô hình kiểm định

3.4. Các biến nghiên cứu

3.4.1. Biến phụ thuộc

3.4.2. Biến độc lập

3.5. Dữ liệu nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả dữ liệu

4.2. Thảo luận kết quả thực nghiệm

4.2.1. Mối quan hệ giữa lượng tiền mặt nắm giữ và dòng tiền hoạt động của công ty

4.2.2. Bất cân xứng trong độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền khi có giới hạn tài chính

4.2.3. Tính bất cân xứng trong độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền khi xem xét tác động của chi phí đại diện

4.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẶNG NGỌC TRANG ANH ĐỘ NHẠY CỦA TIỀN MẶT ĐỐI VỚI DÒNG TIỀN KIỂM ĐỊNH TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2016 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẶNG NGỌC TRANG ANH ĐỘ NHẠY CỦA TIỀN MẶT ĐỐI VỚI DÒNG TIỀN KIỂM ĐỊNH TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2016 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền – kiểm định tại Việt Nam” là công trình do chính tôi nghiên cứu và soạn thảo. Tác giả luận văn Đặng Ngọc Trang Anh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN TÓM TẮT CHƯƠNG I. Lý do thực hiện đề tài: . Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu:. Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: . Bố cục nghiên cứu: .4 CHƯƠNG II. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TIỀN MẶT VÀ DÒNG TIỀN TRONG DOANH NGHIỆP . Những nghiên cứu lý thuyết về tiền mặt và dòng tiền:. Lý thuyết đánh đổi (The trade-off model):. Lý thuyết trật tự phân hạng (The pecking order theory): . Lý thuyết dòng tiền tự do (The free cashflow theory): . Nghiên cứu thực nghiệm về tiền mặt và dòng tiền:.8 CHƯƠNG III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM . Phương pháp ước lượng: . Giả thuyết nghiên cứu: . Mô hình nghiên cứu:. Mô hình thực nghiệm cơ bản: . Mô hình kiểm định:.30 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các biến nghiên cứu: . Biến phụ thuộc: . Biến độc lập: . Dữ liệu nghiên cứu: .39 CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU . Thống kê mô tả dữ liệu: . Thảo luận kết quả thực nghiệm: . Mối quan hệ giữa lượng tiền mặt nắm giữ và dòng tiền hoạt động của công ty: . Bất cân xứng trong độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền khi có giới hạn tài chính: . Tính bất cân xứng trong độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền khi xem xét tác động của chi phí đại diện: . Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo: .59 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TÓM TẮT Nghiên cứu này nhằm mục tiêu nghiên cứu sự bất cân xứng trong độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền khi công ty có dòng tiền hoạt động âm và khi công ty có dòng tiền hoạt động dương. Tôi cũng nghiên cứu sự bất cân xứng trong độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền trong trường hợp công ty bị giới hạn tài chính, đồng thời xem xét tác động của chi phí đại diện lên việc nắm giữ tiền mặt trong doanh nghiệp. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên mẫu của 246 công ty phi tài chính đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 6 năm từ 2008 – 2014. Dữ liệu được lấy từ báo cáo tài chính hàng năm của các công ty trong mẫu và phân tích bằng phương pháp Tổng quát hóa của moment bậc 4 (GMM bậc 4). Kết quả cho thấy mối quan hệ đồng biến giữa tiền mặt và dòng tiền. Sau đó, tôi kiểm tra lại độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền khi công ty bị giới hạn về tài chính, và thấy rằng, khi công ty bị giới hạn tài chính có dòng tiền âm, công ty sẽ tiếp tục sử dụng tiền mặt để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Cuối cùng khi đưa yếu tố chi phí đại diện (kiểm soát từ bên ngoài) vào mô hình nghiên cứu, thì công ty có kiểm soát bên ngoài chặt hơn sẽ nắm giữ tiền mặt ít hơn để đầu tư cho những dự án tốt. Các kết quả đều cho thấy mức độ và phản ứng của công ty có dòng tiền âm và công ty có dòng tiền dương đến việc nắm giữ tiền mặt là khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƯƠNG I. Lý do thực hiện đề tài: Quản trị tiền mặt là một chiến lược tài chính không thể thiếu trong hoạt động của doanh nghiệp và luôn đặt ra nhiều thách thức cho các nhà quản lý. Một sự gia tăng hay giảm sút dòng tiền trong năm tài chính sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Có những lập luận cho rằng, các doanh nghiệp cần dự trữ một lượng tiền mặt nhất định để trang trải cho chi phí lãi vay và những chi phí cần thiết trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần có một lượng tiền mặt dôi ra để đề phòng những tình huống bất ngờ. Việc thiếu hụt tiền mặt có thể làm bỏ lỡ một cơ hội đầu tư tốt mà doanh nghiệp đang mong đợi, nhưng nắm giữ tiền mặt quá mức cần thiết, cũng làm tăng chi phí cơ hội của dòng tiền trong trường hợp chúng ta nắm giữ tiền mặt quá nhiều mà chưa tìm được cơ hội đầu tư thích hợp. Đối với các nhà đầu tư, họ thường tìm kiếm doanh nghiệp có một lượng tiền mặt dồi dào, vì điều này sẽ giúp doanh nghiệp vượt qua được giai đoạn khó khăn, và cũng mang lại cho doanh nghiệp một cơ hội đầu tư chiến lược và làm giảm chi phí. Tuy nhiên, lượng tiền mặt dồi dào sẽ mang lại hai hàm ý. Thứ nhất, doanh nghiệp đang có tiềm lực về tài chính, và có thể nhanh chóng giải quyết những tình huống bất trắc và có nhiều sự lựa chọn hơn cho các cơ hội đầu tư trong tương lai của mình. Và điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ mất nhiều chi phí cơ hội khi tiền mặt nhàn rỗi không sinh lợi cho doanh nghiệp. Ngoài ra, chi phí đại diện sẽ xuất hiện khi doanh nghiệp nắm giữ một lượng tiền mặt dồi dào. Các nhà quản lý nhiều khả năng sẽ thực hiện những phi vụ mua bán sáp nhập lãng phí hoặc đầu tư vào những dự án kém hiệu quả để tìm kiếm những lợi ích cá nhân. Thứ hai, nhà đầu tư nghĩ rằng doanh nghiệp đã mất đi những cơ hội đầu tư tốt và rất có thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 các nhà quản lý không biết đầu tư lượng tiền mặt đó như thế nào để đạt được lợi nhuận cao nhất. Đã có khá nhiều nghiên cứu về việc nắm giữ tiền mặt và các nhân tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt trong công ty. Fazzari và cộng sự (1988) cho rằng khi công ty đối mặt với giới hạn tài chính, chi tiêu cho đầu tư sẽ thay đổi với sự sẵn có của nguồn vốn nội bộ. Theo đó, cần xem xét mối quan hệ giữa dòng tiền và đầu tư khi công ty có những rào cản về tài chính. Tuy nhiên, Kaplan và Zingles (1997) đã kết luận rằng không có bằng chứng cho thấy giới hạn về tài chính ảnh hưởng đến độ nhạy giữa dòng tiền và dòng vốn đầu tư của công ty. Oppler và cộng sự (1999) lại cho rằng việc công ty nắm giữ tiền mặt là để phòng ngừa và đảm bảo cho việc đầu tư khi mà dòng tiền hoạt động của công ty là quá thấp và chi phí huy động vốn là quá cao. Almeida và cộng sự (2004) dựa trên các nghiên cứu trước đây, đã hoàn thiện mô hình thực nghiệm về độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền. Sau khi đưa vào các biến liên quan đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp, Almeida và cộng sự đã kết luận độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền khi công ty có giới hạn về tài chính là cùng chiều, tuy nhiên khi công ty không bị giới hạn về tài chính thì không có một kết luận rõ ràng. Điều này có nghĩa công ty sẽ giảm (tăng) nắm giữ tiền mặt khi đối diện với dòng tiền âm (dương). Nghiên cứu của Khuarana và cộng sự (2006) tiếp cận ở một phương diện khác cũng có cùng kết luận độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền là dương. Trong khi đó, nghiên cứu của Acharya và cộng sự (2007) và Riddick và Whited (2009) lại có kết luận ngược lại. Riddick và Whited (2009) xem xét lại độ nhạy dòng tiền theo lượng tiền mặt nắm giữ của công ty bằng các lý thuyết và mô hình thực nghiệm khác nhau và tìm thấy được mối quan hệ ngược chiều giữa việc nắm giữ tiền mặt và trạng thái dòng tiền. Sau đó, Dichu Bao, Kam C.Chan và Weining Zhang (2012) dựa trên mô hình của Almeida và cộng sự (2004) và Riddick và Whited (2009), sau khi sửa lại lỗi đo lường của Tobin’q theo Erickson và Whited (2000) đã khẳng định lại kết luận của Riddick và Whited (2009) rằng độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền là âm. Sau đó, Bao và cộng sự (2012) đã phát triển nghiên cứu của mình thêm một hướng mới đó là về sự bất cân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 xứng trong độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền của doanh nghiệp khi doanh nghiệp có dòng tiền âm và khi doanh nghiệp có dòng tiền dương. Dichu Bao và cộng sự (2012) cũng lưu ý xem xét tác động của chi phí đại diện đến độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền. Trước đó, theo Jensen và Meckling (1976) và Jensen (1986), đã có kết luận rằng các nhà quản lý có động lực đầu tư nhiều hơn để tối đa hóa lợi ích cá nhân nên họ có khả năng giữ một số dự án không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận âm. Việc này ảnh hưởng nhiều đến quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp, tuy nhiên, Bao và cộng sự (2012) cũng xem xét tách biệt ảnh hưởng của các yếu tố đến độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền khi công ty có dòng tiền âm và khi công ty có dòng tiền dương. Các bài nghiên cứu trước đây đã thực hiện trên dữ liệu là các doanh nghiệp tại nhiều quốc gia khác nhau, và được thực hiện đa số tại các quốc gia phát triển và có nền tài chính vững mạnh. Tuy nhiên, ở Việt Nam, liệu bài nghiên cứu này có cùng những kết luận như trên hay không? Do đó, bài nghiên cứu này lựa chọn vấn đề: “Độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền – kiểm định tại Việt Nam” để nghiên cứu độ nhạy của tiền mặt đối với dòng tiền như thế nào khi công ty đối mặt với trạng thái dòng tiền hoạt động trong năm của mình là âm hoặc dương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ