Nghiên cứu về độ mở tài chính, thể chế và sự ổn định ngân hàng tại châu Á

Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mở tài chính và thể chế đến sự ổn định hệ thống ngân hàng thương mại tại các nước châu Á giai đoạn 2011-2020.

Chuyên ngành

Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở

2024

79
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Độ Mở Tài Chính và Tác Động Đến Ổn Định Ngân Hàng Châu Á

Độ mở tài chính là một chỉ số quan trọng đo lường mức độ tự do hóa tài chính của các quốc gia. Nghiên cứu từ Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM cho thấy độ mở tài chính tác động cùng chiều mạnh mẽ đến sự ổn định hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) tại 35 nước châu Á giai đoạn 2011-2020. Khi các quốc gia châu Á mở cửa hơn cho các dòng vốn quốc tế, hệ thống ngân hàng có cơ hội tiếp cận nguồn vốn dồi dào, từ đó nâng cao khả năng thanh khoản và ổn định hệ thống NHTM. Tuy nhiên, quá trình tự do hóa tài chính cần được thực hiện một cách cân đối để tránh những rủi ro từ sốc tài chính bên ngoài.

1.1. Khái Niệm Độ Mở Tài Chính Theo Chinn Ito

Chỉ số độ mở tài chính do Chinn & Ito (2008) phát triển là công cụ đo lường chính sách tự do hóa tài chính của từng quốc gia. Chỉ số này dựa trên các quy định pháp lệ về tài khoản vốn và các hạn chế về giao dịch ngoại tệ. Các quốc gia châu Á với mức độ mở tài chính cao hơn có thể huy động vốn nước ngoài hiệu quả hơn, giúp cải thiện ổn định ngân hàng thông qua đa dạng hóa nguồn vốn.

1.2. Cơ Chế Tác Động Đến Ổn Định NHTM

Độ mở tài chính ảnh hưởng đến ổn định hệ thống ngân hàng thông qua nhiều kênh truyền. Thứ nhất, giúp ngân hàng tiếp cận vốn quốc tế rẻ hơn. Thứ hai, tạo ra áp lực cạnh tranh, buộc các NHTM nâng cao hiệu quả hoạt động. Thứ ba, thúc đẩy chuyên môn hóa quản lý rủi ro. Tuy nhiên, cũng tồn tại rủi ro từ khủng hoảng tài chính khi có sốc bên ngoài.

II. Vai Trò Của Thể Chế Trong Ổn Định Hệ Thống Ngân Hàng

Thể chế được hiểu là các quy tắc, chế độ, và tổ chức chi phối hoạt động kinh tế-xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số thể chế như kiểm soát tham nhũng, hiệu quả Chính phủ, pháp quyền, tiếng nói và trách nhiệm giải trình đều gia tăng ổn định hệ thống NHTM. Các quốc gia châu Á có nền thể chế vững chắc và minh bạch sẽ tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, giảm thiểu rủi ro đạo đức (moral hazard) trong hoạt động ngân hàng. Thể chế chất lượng cao giúp các NHTM tuân thủ quy chuẩn quốc tế, nâng cao niềm tin của nhà đầu tư.

2.1. Sáu Chỉ Số Thể Chế Cốt Lõi

Nghiên cứu sử dụng sáu chỉ số thể chế: (CC) kiểm soát tham nhũng, (GE) hiệu quả Chính phủ, (PS) ổn định chính trị, (RQ) chất lượng quy định, (RL) pháp quyền, và (VA) tiếng nói & trách nhiệm giải trình. Mỗi chỉ số được đánh giá từ -2.5 đến 2.5, với điểm càng cao càng tốt. Các nước châu Á với thể chế mạnh có xu hướng duy trì ổn định ngân hàng tốt hơn.

2.2. Tác Động Của Thể Chế Đến Quy Mô Ngân Hàng

Các NHTM hoạt động trong môi trường thể chế vững chắc có khả năng kiểm soát rủi ro tốt hơn. Thể chế mạnh giúp giảm chi phí giao dịch, tăng hiệu quả cấp tín dụng, và cải thiện quản lý ổn định hệ thống. Đặc biệt, pháp quyền trong lấy và thu hồi tài sản thế chấp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nợ xấu và ổn định NHTM.

III. Các Yếu Tố Ở Mức Ngân Hàng Và Vĩ Mô Tác Động Đến Ổn Định

Ngoài độ mở tài chínhthể chế, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đáng kể đến ổn định hệ thống NHTM. Ở mức độ ngân hàng, khả năng sinh lời (ROA) có tác động dương mạnh mẽ, trong khi tỷ lệ tài sản thanh khoản (LA) và mức độ tập trung (BC) lại tác động âm. Ở mức vĩ mô, tăng trưởng kinh tế (GDP) có ảnh hưởng cùng chiều với ý nghĩa thống kê 1%, nhưng lạm phát gần như không ảnh hưởng. Sự kết hợp các yếu tố này tạo nên hình ảnh toàn diện về ổn định ngân hàng châu Á.

3.1. Các Biến Kiểm Soát Mức Ngân Hàng

Khả năng sinh lời (ROA) là chỉ số quan trọng nhất ở mức ngân hàng, phản ánh hiệu quả hoạt động. NHTM có ROA cao hơn sẽ có ổn định tốt hơn vì có đủ lợi nhuận để dự phòng rủi ro. Ngược lại, tỷ lệ tài sản thanh khoản cao có thể chỉ ra NHTM không hiệu quả trong sử dụng vốn. Mức độ tập trung ngân hàng cũng ảnh hưởng âm vì thị trường độc quyền có ít áp lực cạnh tranh.

3.2. Tác Động Của Các Biến Vĩ Mô

Tăng trưởng kinh tế trong các nước châu Á tác động cùng chiều với ổn định NHTM ở tất cả sáu mô hình thể chế, với mức ý nghĩa 1%. Khi kinh tế tăng trưởng, nhu cầu tín dụng tăng và khả năng trả nợ của khách hàng cải thiện. Tuy nhiên, lạm phát không thể hiện ảnh hưởng rõ ràng đến ổn định hệ thống, có thể là do các nước châu Á kiểm soát lạm phát khá tốt.

IV. Chính Sách Đề Xuất Để Gia Tăng Ổn Định Hệ Thống Ngân Hàng Châu Á

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các quốc gia châu Á cần thực hiện các chính sách nhằm gia tăng ổn định hệ thống NHTM. Thứ nhất, tiếp tục mở cửa nền kinh tế một cách cân đối, nâng cao độ mở tài chính song song với cải thiện giám sát và kiểm soát rủi ro. Thứ hai, cải cách thể chế để giảm tham nhũng, tăng hiệu quả Chính phủ, và làm mạnh pháp quyền. Thứ ba, các ngân hàng cần tăng cường quản lý rủi ro và duy trì các chỉ số sinh lợi ở mức cao. Cuối cùng, các cơ quan Nhà nước cần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững để tạo nền tảng cho ổn định ngân hàng lâu dài.

4.1. Chính Sách Đối Với Các Ngân Hàng Thương Mại

Các NHTM cần ưu tiên quản lý ổn định hệ thống thông qua tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng và ngoại hối. Ngân hàng phải duy trì mức vốn an toàn cao hơn yêu cầu tối thiểu, tích cực nâng cao ROA thông qua cải tiến công nghệ và dịch vụ. Đồng thời, NHTM cần tuân thủ các chuẩn mực thể chế quốc tế và minh bạch thông tin với cổ đông.

4.2. Chính Sách Của Cơ Quan Nhà Nước

Các cơ quan Nhà nước cần thiết lập thể chế vững chắc với pháp quyền bảo vệ quyền lợi các bên liên quan. Cần tăng cường chỉnh sửa pháp luật về lấy và thu hồi tài sản thế chấp, cấp tín dụng minh bạch. Nhà nước cũng nên hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thông qua các chính sách vĩ mô ổn định, từ đó tạo nền tảng cho ổn định hệ thống NHTM bền vững.

18/12/2025
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở ảnh hưởng của độ mở tài chính và thể chế đến sự ổn định hệ thống ngân hàng thương mại tại các nước châu á

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, nghiên cứu đã nêu rõ tính cấp thiết của đề tài cũng như các nội dung khác có liên quan như mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp, đóng góp, quy trình thực hiện và kết cấu của đề tài nghiên cứu. Về mục tiêu, đề tài cố gắng tìm ra ảnh hưởng của độ mở tài chính và thể chế đến sự ổn định hệ thống NHTM thông qua dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ những nguồn dữ liệu thứ cấp được trình bày chi tiết ở Chương 3. Kích thước mẫu nghiên cứu bao gồm 35 quốc gia tại châu Á trong giai đoạn 2011-2020. Phương pháp định lượng được đề tài sử dụng để đảm bảo việc trả lời cho các câu hỏi được cụ thể hóa để giải thích cho mục tiêu nghiên cứu.

Đề tài cũng kỳ vọng kết quả nghiên cứu sẽ có những đóng góp về bằng chứng khoa học và thực tiễn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm a) Sự ổn định hệ thống NHTM (ZSCORE). Theo Altman (1968), các ngân hàng có thể sử dụng mô hình Z-Score để dự đoán các vấn đề về quản lý nhất là vấn đề liên quan đến quản lý tài chính, từ đó đưa ra các quyết định có tính kịp thời nhằm khắc phục các vấn đề phát sinh tránh cho ngân hàng rơi vào tình trạng phá sản. Hệ số Z-score được dùng để tính toán và đo lường sự an toàn đối với nguy cơ phá sản của ngân hàng thương mại (Roy 1952, Hannan & Hanweck, 1988).

ZSCORE được định nghĩa là tỷ lệ giữa tổng lợi nhuận trung bình trên tài sản cộng và tỷ lệ tài sản vốn trên độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tài sản, cụ thể 𝑅𝑂𝐴 + 𝐶𝐴𝑅 𝑍𝑆𝐶𝑂𝑅𝐸 = 𝛿(𝑅𝑂𝐴) Với, ROA – lợi nhuận trung bình hàng năm trên tài sản, CAR – tỷ lệ vốn của NHTM trên tổng tài sản, 𝛿(ROA) – độ lệch chuẩn của ROA. Hệ số ZSCORE cho biết xác suất vỡ nợ của hệ thống NHTM. ZSCORE cao hơn thể hiện NHTM ổn định hơn so với những NHTM có điểm thấp hơn. Điều này là do ZSCORE đo lường khả năng của hệ thống NHTM (về vốn hóa và thu nhập ròng) đối với rủi ro tương ứng (biến động trong thu nhập).

Đề tài sử dụng ZSCORE để đo lường sự ổn định của hệ thống NHTM, tương tự như các nghiên cứu trước (Ashraf, 2018; Ashraf và cộng sự, 2017; Berger và cộng sự, 2017). Bản chất của Z- score sẽ đảm bảo rủi ro thấp hơn khi độ ổn định càng cao. Ưu điểm của Z-score là làm cho các tham số của các ngân hàng có thể so sánh được với nhau. So sánh trong trường hợp có sự khác biệt về quy mô.

Tuy nhiên, Z-score cũng có một nhược điểm là khó áp dụng ở nhiều quốc gia có chuẩn mực kế toán khác nhau. Điểm Z có lợi thế hơn các tiêu chuẩn khác về rủi ro ngân hàng vì phạm vi của nó nằm trong miền số thực (Lepetit & Strobel, 2015) b) Độ mở tài chính (KAOPEN). 8 Độ mở tài chính thường được hiểu là mở cửa thị trường tài chính của nền kinh tế trong nước cho các nhà đầu tư nước ngoài (Qasim, Aziz & Naveed, 2020; Luo, Tanna, & De Vita, 2016). Lý do có thể không có ước lượng tuyến tính đáng kể về mối quan hệ giữa độ mở tài chính và biến động kinh tế vĩ mô là do dữ liệu của các quốc gia có mức độ mở tài chính khác nhau được gộp lại với nhau vì mối quan hệ cơ bản khá phẳng và không đơn điệu( Hagen & Zhang, 2006).

Chỉ số Chinn-Ito (hay KAOPEN) là thước đo độ mở tài chính do Chinn & Ito (2006, 2008) phát triển. Chỉ số này đo lường mức độ mở tài khoản vốn của một quốc gia thông qua Báo cáo thường niên của IMF về thỏa thuận trao đổi và hạn chế trao đổi (AREAER). Chinn & Ito (2008) đã hệ thống hóa một số hạn chế trong các giao dịch tài chính quốc tế (đặc biệt là giao dịch tài khoản vốn, giao dịch tài khoản vãng lai, tỷ giá hối đoái và các quy định về hoàn trả tiền thu được từ xuất khẩu) và xây dựng chỉ số KAOPEN từ các biến giả đại diện cho những hạn chế này. Giá trị của chỉ số càng cao, quốc gia đó càng hội nhập nhiều hơn vào các giao dịch vốn quốc tế.

c) Phát triển thế chế (INSTI). Xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng, là một trong ba đột phá chiến lược để phát triển đất nước bền vững. Sự phát triển thể chế có vai trò quan trọng và quyết định đối với sự phát triển của tất cả các quốc gia. Trong đó, vai trò của thể chế phụ thuộc lớn vào chất lượng của hệ thống pháp luật.

Chính vì lẽ đó, cùng với yêu cầu tập trung xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường. Đây là nhân tố quan trọng có tác động lớn tới quá trình phát triển của đất nước. Nhân tố này bao trùm nhiều mặt, từ các tri thức phổ thông đến các tích lũy tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, công nghệ, văn học, lối sống và cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp, những phong tục tập quán…Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia. Các nhân tố này tác động đến quá trình phát triển đất nước theo khía cạnh tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường xã hội cho các nhà đầu tư.

Thể chế được biểu hiện như 9 một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng đồng nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, chính trị và xã hội theo lợi ích của cộng đồng đặt ra. Thể chế là hệ thống pháp chế gồm: Hiến pháp; các bộ luật, các quy định, các quy tắc, chế định…, nhằm hài hòa các quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân, mọi tổ chức trong một trật tự xã hội, hướng tới sự tổng hòa các lợi ích của cộng đồng (Tuyen & Anh, 2015). Các chỉ số Quản trị toàn cầu (Worldwide Governance Indicators – WGI) xây dựng sáu thước đo về thể chế một quốc gia. Họ tính đến việc các Chính phủ được lựa chọn, giám sát và thay thế như thế nào; mức độ chính phủ có thể xây dựng và thực hiện các chính sách hợp lý; nhận thức của người dân và các thể chế ảnh hưởng đến các mối quan hệ kinh tế và xã hội (Kaufmann và cộng sự, 2011).

Thể chế bao gồm sáu chỉ số: Hiệu quả của Chính phủ, Sự ổn định chính trị, Tiếng nói và trách nhiệm giải trình, Kiểm soát tham nhũng, Pháp quyền và Chất lượng quy định nằm trong khoảng từ −2,5 đến 2,5. Giá trị này cao nghĩa là phát triển thể chế tốt hơn. Định nghĩa các biến thể chế Tên Ý nghĩa Giá trị Hiệu quả của Chính Chất lượng dịch vụ công, nền công vụ và [−2,5, 2,5] phủ (Government mức độ độc lập trước áp lực chính trị, độ Effectiveness – GE) tin cậy của cam kết của Chính phủ đối với các chính sách. Ổn định chính trị Mức độ ổn định của Chính phủ, cũng như [−2,5, 2,5] (Political Stability – khả năng Chính phủ sẽ không bị lật đổ PS) bằng các biện pháp vi hiến hoặc bạo lực, bao gồm bạo lực và khủng bố có động cơ chính trị.

Tiếng nói và trách Khả năng của công dân trong việc bỏ phiếu [−2,5, 2,5] nhiệm giải trình và lựa chọn Chính phủ, tự do ngôn luận, tự (Voice and do lập hội và tự do truyền thông Accountability – VA) Kiểm soát tham Mức độ kiểm soát việc thực thi quyền lực [−2,5, 2,5] nhũng (Control of công đế tư lợi, bao gồm cả các hình thức Corruption –CC) tham nhũng nhỏ và lớn, cũng như "thâu tóm" tài sản công và chuyển thành lợi ích tư nhân. Pháp quyền (Rule Mức độ tin tưởng và tuân thủ quy tắc của [−2,5, 2,5] of Law - RL) xã hội, đặc biệt là chất lượng thực thi hợp đồng, quyền tài sản, cảnh sát, và các tòa án, cũng như khả năng xảy ra tội phạm và bạo lực. Chất lượng quy Mức độ Chính phủ có thể xây dựng và thực [−2,5, 2,5] định (Regulatory hiện các chính sách và quy định hợp lý cho Quality – RQ) phép và thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả 2.2 Cơ sở lý thuyết Độ mở tài chính là một yếu tố quan trọng khác cho sự ổn định của ngân hàng. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt nguồn từ Hoa Kỳ đã nhanh chóng lan rộng sang nhiều quốc gia khác nhau trên diện rộng do sự cởi mở về tài chính.

Độ mở tài chính của một quốc gia có cả lợi ích và rủi ro. Ví dụ, độ mở tài chính cho phép 11 nguồn vốn nước ngoài tăng cơ sở tiền gửi của một quốc gia. Tuy nhiên, nó cũng ảnh hưởng đến sự biến động của các dòng tài chính và các chính sách đối ngoại ảnh hưởng đến chúng, do đó có thể gây ra những cú sốc tiêu cực. Do đó, độ mở tài chính có thể làm giảm khả năng phục hồi của một quốc gia (Piersanti 2012).

Tài liệu lý thuyết gần nhất với mô hình của chúng tôi là Cordella và Yeyati (2002) và Hyytinen và Takalo (2002). Cordella và Yeyati (2002) phát triển mô hình cạnh tranh không gian giữa các ngân hàng và nghiên cứu tác động của việc phổ biến thông tin tài chính và sự gia nhập của các ngân hàng mới đối với việc chấp nhận rủi ro. Phương pháp mà Cordella và Yeyati sử dụng để lập mô hình minh bạch tài chính cũng khác với phương pháp của chúng tôi. Hyytinen và Takalo (2002) lập luận rằng tính minh bạch theo yêu cầu của quy định ngân hàng sẽ phải trả giá, do đó có thể làm giảm giá trị điều lệ của ngân hàng và làm tăng tính mong manh của hệ thống ngân hàng.

Trong một thị trường cạnh tranh cao, các ngân hàng cạnh tranh để giành được thị phần tốt và trở nên kém thận trọng hơn; hay nói một cách khác tác động ngược chiều đến sự ổn định hệ thống ngân hàng, ủng hộ giả thuyết “cạnh tranh – bất ổn” (Competition – Fraglity) (Hellmann và cộng sự, 2000; Repullo, 2004). Quan điểm ngược lại ủng hộ giả thuyết “cạnh tranh - ổn định” (Competition-Stability) (Boyd & Nicoló, 2005). Theo quan điểm “cạnh tranh – bất ổn” (Competition – Fraglity), khi thị trường tài chính trở nên mở cửa hơn, mức độ cạnh tranh (hay mức độ tập trung) sẽ tăng. Các ngân hàng hoạt động trong thị trường cạnh tranh cao sẽ có tỷ suất lợi nhuận, cũng như vốn điều lệ giảm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ