CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐO LƯỜNG RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro thanh khoản 1. Thanh khoản: Dưới góc độ tài sản : “Thanh khoản là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản và ngược lại. Một tài sản được xem là thanh khoản khi đáp ứng các tiêu chí sau: Có sẵn số lượng để mua hoặc bán, có sẵn thị trường để giao dịch, có sẵn thời gian để giao dịch, giá cả hợp lý” (Nguyễn Văn Tiến, 2009, trang 450).
Dưới góc độ ngân hàng: “ Thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các hoạt động giao dịch tài chính khác” (Nguyễn Văn Tiến, 2009, trang 451). Theo Trần Huy Hoàng (2010): “ Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh”. Như vậy, thanh khoản khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn sẵn có để đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch với chi phí hợp lý. Rủi ro thanh khoản: Khi nghiên cứu về rủi ro thanh khoản , đã có nhiều quan điểm về vấn đề này.Kolari (2005), rủi ro thanh khoản là rủi ro về tổn thất phát sinh từ trạng thái thiếu hụt tiền mặt hoặc tài sản tương đương tiền, hay đặc biệt hơn là rủi ro về tổn thất phát sinh từ trạng thái thiếu khả năng thu xếp được nguồn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 5- tài trợ với mức độ hợp lý về chi phí, bán hay thu xếp một tài sản với mức giá hợp lý nhằm trang trải một nghĩa vụ đã được dự định hoặc bất định.
Theo Phan Thị Cúc (2006): “Đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp các ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền, hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán”. Theo Phan Thị Thu Hà (2009): “Rủi ro thanh khoản là rủi ro liên quan việc ngân hàng thiếu ngân quỹ hoặc tài sản ngắn hạn mang tính kh ả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền và người đi vay ”. Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu rủi ro thanh khoản là rủi ro phát sinh khi ngân hàng không có đủ dự trữ để đáp ứng các nhu cầu chi trả hoặc có khả năng đáp ứng các nhu cầu chi trả nhưng phải chịu tổn thất khi đá p ứng các n hu cầu chi trả đó. Các nguyên nhân dẫn đến thanh khoản có vấn đề 1.
Các nguyên nhân từ bên trong: Thứ nhất, do chiến lược quản trị thanh khoản của ngân hàng chưa hiệu quả, thể hiện nhiều yếu kém như: Nắm giữ quá nhiều chứng khoán có tính thanh khoản thấp; hoặc dự trữ không đáp ứng đủ cho nhu cầu chi trả; hoặc sử dụng quá nhiều nguồn vốn huy động ngắn hạn để cho vay, đầu tư trung dài hạn , … Thứ hai, do ngân hàng cho vay, đầu tư tràn lan trong khi chưa thẩm định, kiểm soát chặt chẽ dẫn đến khả năng thu hồi vốn gặp nhiều khó khăn (không có vốn để ngân hàng có thể đáp ứng các nhu cầu chi trả). Thứ ba, do ngân hàng chưa chú trọng nhiều đến việc tăng cường và đa dạng các hình thức huy động vốn, dẫn đến nguồn vốn huy động giảm hoặc có tăng trưởng nhưng tăng trưởng chậm, không đủ để đáp ứng các nhu cầu. Thứ tư , do ngân hàng có sự mất cân đối giữa nguồn và s ử dụng nguồn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Các nguyên nhân từ bên ngoài: Thứ nhất, những thay đổi trong điều hành chính sách vĩ mô củ a Chính phủ, nhất là những thay đổi trong điều hành CSTT của NHNN qua việc thực hiện các công cụ CSTT như: DTBB, lãi suất, tỷ giá, OMO,… Thứ hai, do sự biến động của lãi suất thị trường làm ảnh hưởng đến nguồn tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng. Khi lãi suất thị trường tăng , một số khách hàng gửi tiền rút vốn ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn các khách hàng vay tiền sẽ tíc h cực tiếp cận với vốn vay ngân hàng vì có lãi suất thấp hơn. Thứ ba, do tình hình kinh tế khó khăn dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay bị thua lỗ, không có khả năng trả nợ ngân hàng; điều này ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng cũng như khả năng đảm bảo nhu cầu thanh khoản của ngân hàng. Thứ tư, các nguyên nhân khác như: Các tin tức về các vụ án liên quan đến Ban Lãnh đạo của ngân hàng hoặc các tin đồn thất thiệt về ngân hàng cũng làm cho khách hàng rút tiền hàng loạt do tâm lý lo sợ hoặc tâm lý theo “đám đông”; thiệt hại năng hơn có thể dẫn đến ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả.
Cung, cầu về thanh khoản Khả năng thanh khoản của ngân hàng được thể hiện trong n guồn cung và cầu về thanh khoản: Cung thanh khoản: Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm: Các khoản tiền gửi đang đến; doanh thu từ việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng; thu hồi từ tín dụng, đầu tư đã cấp; bán các tài sản đang kinh doanh, sử dụng hoặc thu hồi từ xử lý các TSBĐ nợ vay; vay mượn trên thị trường liên ngân hàng hoặc vay tái cấp vốn từ NHNN; vốn cổ phần góp thêm của các cổ đông (tăng vốn điều lệ), … TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 7- Cầu thanh khoản: Cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng, bao gồm: Khách hàng rút các khoản tiền gửi; cấp tín dụng, đầu tư cho các hợp đồng hạn mức đã k ý hoặc cấp tín dụng, đầu tư mới; xử lý dự phòng rủi ro c ho các khoản tín dụng, đầu tư do không thu hồi được ; hoàn trả các khoản vay mượ n phi tiền gửi; đầu tư, mua sắm tài sản để mở rộng mạng lưới hoặc nâng cao chất lượn g hoạt động; các khoản chi phí cho hoạt động kinh doanh và cung ứng các dịch vụ; thanh toán cổ tức bằng tiền cho các cổ đông, … 1. Đánh giá trạng thái thanh khoản Theo Trần Huy Hoàng (2010) , ở bất kỳ thời điểm nào, các nguồn cung và cầu thanh khoản đến cùng với nhau và tạo thàn h trạng thái thanh khoản ròng (NLP). Trạng thái này được xác định như sau: NLP = Tổng cung về thanh khoản – Tổng cầu về thanh khoản - Khi NLP >0: Có nghĩa là ngân hàng đang ở trạng thái thừa thanh khoản. Trong trường hợp này, ngân hàng phải đưa ra quyết định sử dụng ngay nguồn thanh khoản thặng dư này ở đâu và trong thời gian bao lâu (khi đến hạn có thể được tiếp tục tái sử dụng cho các nhu cầu trong tương lai trên cơ sở dự báo của ngân hàng tại thời điểm hiện tại), đảm bảo có khả năng sinh lợi nhiều nhất từ nguồn thanh khoản thặng dư này.
Tuy nhiên, thặng dư thanh khoản lại thường xảy ra khi nền kinh tế có nhiều bất ổn do các ngân hàng khó tiếp cận được nhiều khách hàng có khả năng tài chính tốt để cho vay hoặc ngân hàng không dám mạnh tay cho vay do lo sợ những bất ổn kinh tế sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng vay (mặ c dù vào thời điểm hiện tại khách hàng đang có khả năng tài chính tốt). Xét trong phạm vi một ngân hàng, đây là nguyên nhân của việc ngân hàng nắm giữ quá nhiều tài sản Có không có khả năng sinh lời, hoặc nắm giữ tài sản Có khả năng sinh lời nhưng ngân hàng chưa khai thác hết, hoặc do ngân hàng quá tập trung công tác huy động vốn trong khi chưa có xây dựng phương án sử dụng nguồn vốn có hiệu quả. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 8- - Khi NLP < 0: Có nghĩa là ngân hàng đang ở trạng thái thâm hụt thanh khoản (hay thiếu thanh khoản). Trong trường hợp này, ngân hàng phải đưa ra quyết định tìm kiếm nguồn vốn kịp thời để đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Chẳng hạn, ngân hàng có thể bán các tài sản Có có tính thanh khoản cao; hoặc vay qua đêm trên thị trường liê n ngân hàng; vay tái chiết khấu các GTCG hoặc vay tái cấp vốn tại NHNN; phát hành các chứng chỉ tiền gửi với lãi suất ưu đãi và hấp dẫn; … 1. Quản trị rủi ro thanh khoản 1. Khái niệm Quản trị thanh khoản là việc quản lý có hiệu quả cấu trúc tính thanh khoản của tài sản và cấu trúc danh mục của nguồn vốn (Trần Huy Hoàng, 2010). Quản trị rủi ro thanh khoản được hiểu là quá trình nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài trợ những nguy cơ rủi ro về việc ngân hàn g không thể đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nhu cầu thanh khoản cho khách hàng (Nguyễn Thị Mùi, 2006).
Sự cần thiết phải quản trị rủi ro thanh khoản Trong thực tế, hiếm khi nào tại một thời điểm tổng cung bằng với tổng cầu thanh khoản, ngân hàng phải thường xuyên đối phó với tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của mình. Do đó, công tác quản trị rủi ro thanh khoản là rất cần thiết, yêu cầu phải được thực hiện một cách thường xuyên liên tục, nó xuất phá t từ những lý do cơ bản sau: Thứ nhất, có sự đánh đổi giữa thanh khoản và khả năng sinh lời. Ngân hàng càng tập trung nhiều vốn để đáp ứng yêu cầu thanh khoản thì khả năng sinh lời dự tính càng thấp và ngược lại. Như vậy, vấn đề đặt ra là các ngân hàng phả i thực hiện quản trị rủi ro thanh khoản để một mặt để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh nhưng mặt khác đảm bảo được khả năng sinh lời cần thiết.
Thứ hai, nếu rủi ro thanh khoản xảy ra sẽ để lại những hậu quả lớn, mức độ nhẹ sẽ là g iảm thu nhập và uy tín của ngân hàng, mức độ nghiêm trọng đó là sự đổ vỡ ngân hàng và có thể là cả hệ thống ngân hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.