Đặt vấn đề Đất đai đóng vai trò quan trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng của mỗi quốc gia. Song song với sự biến động không ngừng của quỹ đất thì việc chia tách, sáp nhập và điều chỉnh điạ giới hành chính của một số đơn vị hành chính theo nhu cầu quản lý chung đã làm địa giới hành chính các cấp có nhiều thay đổi và làm cho quỹ đất được bố trí theo đơn vị hành chính mới. Trong khi đó công tác quản lý đất đai ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết, hoàn thiện và hiện đại hóa. Vì vậy, yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai hiện nay là phải nắm chắc và quản lý chặt chẻ tới từng thửa đất thì chúng ta cần phải thành lập bản đồ địa chính.
Bản đồ địa chính là một tài liệu cơ sở ban đầu, là thành phần quan trọng nhất trọng nhất trong bộ hồ sơ địa chính, được xây dựng theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn là cơ sở để giải quyết các mối quan hệ tự nhiên, kinh tế - xã hội và pháp lý đến từng thửa đất của từng chủ sử dụng đất. Đo đạc thành lập bản đồ địa chính là một trong những công việc cấp bách của ngành nhằm thống nhất công tác quản lý nhà nước về đất đai đặc biệt là công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Bản đồ địa chính xã Đôn Xuân, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh được thành lập vào năm 2002 bằng phương pháp không ảnh nên dẫn tới lượng biến động ranh thửa lớn. Do đó, việc triển khai đo đạc, chỉnh lý bổ sung bản đồ địa chính là việc làm cần thiết nhằm xác lập tính pháp lý của từng thửa đất và chủ sử dụng đất sau khi đo đạc, chỉnh lý bổ sung, làm cơ sở sau này cho công tác đăng ký biến động, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Xuất phát từ những lý do trên, được sự đồng ý của Khoa Lâm Học – Trường Đại học Lâm Nghiệp Phân hiệu tại tỉnh Đồng Nai và sự chấp thuận của Trung tâm Quy hoạch Điều tra tài nguyên Đất – Công ty TNHH MTV Tài nguyên và Môi trường miền Nam, nên tôi lựa chọn đề tài “Đo đạc thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/5000 tại xã Đôn Xuân, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh”. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Ứng dụng công nghệ GPS-RTK để thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/5000 xã Đôn Xuân, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh làm cơ sở phục vụ kê khai cấp giấy và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tỉnh Trà Vinh. Mục tiêu cụ thể Sử dụng được máy GNSS CHCNAV I50 để đo chi tiết chi tiết thành lập bản đồ địa chính xã Đôn Xuân, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Sử dụng thành thao phần mềm gCadas biên tập thành lập bản đồ địa chính. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các vấn đề bản đồ địa chính 1. Các khái niệm liên quan đến bản đồ địa chính Bản đồ địa chính gốc Bản đồ thể hiện hiện trạng sử dụng đất và thể hiện trọn và không trọn các thửa đất, các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo khu vực trong khu vực một hoặc một số đơn vị hành chính cấp xã, trong một hay các đơn vị hành chính cấp huyện hoặc số huyện trong phạm vi một tỉnh hoặc một thành phố trực thuộc Trung ương, được cơ quan thực hiện và cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh xác nhận.
BĐĐC gốc là cơ sở để thành lập bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. Các nội dung đã được cập nhật trên bản đồ địa chính cấp xã phải được chuyển lên BĐĐC gốc. Bản đồ địa chính Bản đồ thể hiện trọn thửa đất và các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn được cơ quan thực hiện, ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan quản lý cấp tỉnh xác nhận. Thửa đất Phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ.
Ranh giới thửa đất trên thực địa được xác định bằng các cạnh thửa là tâm của đường ranh giới tự nhiên hoặc đường nối giữa các mốc giới hoặc địa vật cố định (là dấu mốc hoặc cọc mốc) tại các đỉnh liền kề của thửa đất; ranh giới thửa đất mô tả trên hồ sơ địa chính được xác định bằng các cạnh thửa là đường ranh giới tự nhiên hoặc đường nối giữa các mốc giới hoặc địa vật cố định. Trên BĐĐC tất cả các thửa đất đều được xác định vị trí, ranh giới (hình thể), diện tích, loại đất và được đánh số thứ tự. Trên BĐĐC ranh giới thửa đất phải thể hiện là đường bao khép kín của phần diện tích đất thuộc thửa đất đó. Trường hợp ranh giới thửa đất là cả đường ranh tự nhiên (như bờ thửa, tường ngăn,…) không thuộc thửa đất mà đường ranh tự 3 nhiên đó thể hiện được bề rộng trên BĐĐC thì ranh giới thửa đất được thể hiện trên bản đồ địa chính là mép của đường ranh tự nhiên giáp với thửa đất.
Hồ sơ địa chính Hồ sơ phục vụ quản lý Nhà nước đối với việc sử dụng đất. Hồ sơ địa chính được lập chi tiết đến từng thửa đất của mỗi người sử dụng đất theo từng đơn vị hành chính cấp xã, gồm: BĐĐC (hoặc bản trích đo địa chính), sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ theo dõi biến động đất đai và bản lưu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các phương pháp thành lập bản đồ địa chính - Thành lập bằng các phương pháp đo đạc trực tiếp trên mặt đất hay còn gọi là phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa. - Bản đồ địa chính được lập bằng phương pháp sử dụng công nghệ GNSS đo tương đối.
- Thành lập bằng phương pháp sử dụng ảnh hàng không kết hợp với đo vẽ trực tiếp ở thực địa. - Trong đề tài này, tôi sử dụng phương pháp RTK và kết hợp với phương pháp toàn đạc điện tử để thành lập bản đồ địa chính. Cơ sở toán học 1. Hệ quy chiếu Căn cứ vào quyết định số 08/2008/QĐ-BTNMT ngày 10 tháng 11 năm 2008, hệ quy chiếu của Việt Nam được quy định như sau: + Ellipsoid WGS-84 toàn cầu với kích thước: a.
Tốc độ góc quay quanh trục: ω = 7292115,0 x 10-11 (rad/s) d. Hằng số trọng trường trái đất: GM = 3986005 x 108 (m3 s-2) + Vị trí Ellipsoid quy chiếu Quốc gia: Ellipsoid WGS-84 toàn cầu được xác định vị trí (định vị) phù hợp với lãnh thổ Việt Nam trên cơ sở sử dụng điểm GPS cạnh dài có độ cao thuỷ chuẩn phân bố đều trên toàn lãnh thổ. 4 + Điểm gốc hệ toạ độ Quốc gia: Điểm N00 đặt tại Viện Nghiên cứu Địa chính (nay là Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ) thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, đường Hoàng Quốc Việt - Hà Nội. + Hệ toạ độ phẳng: hệ toạ độ phẳng UTM quốc tế, được thiết lập trên cơ sở lưới chiếu hình trụ ngang đồng góc với các tham số được tính theo Ellipsoid WGS-84 toàn cầu.
+ Điểm gốc hệ độ cao Quốc gia: Điểm gốc độ cao đặt tại Hòn Dấu - Hải Phòng.2 Tỷ lệ bản đồ Chọn tỷ lệ đo vẽ bản đồ phải căn cứ vào mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của công tác quản lý đất đai, giá trị kinh tế của thửa đất, mức độ khó khăn của từng khu vực, phương tiện, thiết bị và nguồn tài chính phù hợp. Khu vực sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác: tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:2000 và 1:5000. Đối với khu vực sản xuất nông nghiệp mà phần lớn các thửa nhỏ, hẹp hoặc khu vực đất nông nghiệp xen kẽ trong khu vực đất đô thị, trong khu vực đất ở chọn tỷ lệ đo vẽ bản đồ là 1:1000 và 1:500 Khu vực đất phi nông nghiệp mà chủ yếu là đất ở và đất chuyên dùng: + Các thành phố lớn, các khu vực có thửa đất nhỏ hẹp, xây dựng chưa theo quy hoạch, khu vực giá trị kinh tế sử dụng đất cao, tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:200 hoặc 1:500. + Các thành phố, thị xã, thị trấn lớn, các khu dân cư có ý nghĩa kinh tế, văn hóa quan trọng tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:500 và 1:1000 + Các khu dân cư nông thôn tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:1000 và 1:2000 1.
Độ chính xác của bản đồ địa chính + Sai số trung bình vị trí các điểm trên ranh giới thửa đất biểu thị trên BĐĐC số so với điểm khống chế đo vẽ gần nhất không được vượt quá: 5cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:200 7cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500 15cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000 30cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 150cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 300cm đối với bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10000 5 + Sai số trung bình vị trí các điểm trên ranh giới thửa đất biểu thị trên bản đồ địa chính in trên giấy (sau khi đã cải chính độ biến dạng của giấy in bản đồ) so với vị trí của điểm khống chế đo vẽ (hoặc điểm khống chế ảnh) gần nhất không được vượt quá 0,3 mm đối với bản đồ tỷ lệ 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000 và không vượt quá 0,4 mm đối với bản đồ tỷ lệ 1:10000. Nội dung bản đồ địa chính + Điểm khống chế toạ độ, độ cao Nhà nước các hạng, điểm địa chính, điểm độ cao kỹ thuật; điểm khống chế ảnh ngoại nghiệp, điểm khống chế đo vẽ có chôn mốc ổn định; + Địa giới hành chính các cấp, mốc địa giới hành chính các cấp; đường mép nước thủy triều trung bình thấp nhất (đường mép nước triều kiệt) trong nhiều năm (đối với các đơn vị hành chính giáp biển); + Ranh giới thửa đất, loại đất, số thứ tự thửa đất, diện tích thửa đất và các yếu tố nhân tạo, tự nhiên chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất, các tài sản gắn liền với đất; + Dân cư: yếu tố dân cư trên BĐĐC thực chất là đất ở đô thị và đất ở nông thôn.