Đồ án tốt nghiệp: Thiết kế trạm xử lý nước thải bệnh viện đa khoa Long An 400m³/đêm

Giải pháp thiết kế trạm xử lý nước thải bệnh viện đa khoa Long An đạt chuẩn. Phân tích công nghệ, quy trình và quy chuẩn môi trường áp dụng cho hệ thống xử lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

2019

152
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về trạm xử lý nước thải bệnh viện đa khoa Long An

Bệnh viện đa khoa Long An là cơ sở y tế tuyến tỉnh, tiếp nhận hàng nghìn bệnh nhân mỗi ngày. Hoạt động khám chữa bệnh tạo ra lượng nước thải lớn, chứa nhiều chất ô nhiễm nguy hại. Thiết kế trạm xử lý nước thải bệnh viện đa khoa Long An công suất 400m3/ngày đêm là yêu cầu cấp bách. Nước thải bệnh viện có thành phần phức tạp. Chúng chứa chất hữu cơ, vi sinh vật gây bệnh, kim loại nặng và hóa chất dược phẩm. Các chỉ tiêu ô nhiễm chính bao gồm BOD5, COD, tổng N, tổng P và Coliform. Nồng độ các chất này thường vượt xa quy chuẩn cho phép. Quy trình xử lý phải đảm bảo loại bỏ triệt để mọi thành phần nguy hại. Công nghệ được lựa chọn cần phù hợp với điều kiện địa phương. Hệ thống phải vận hành ổn định, chi phí hợp lý. Nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn QCVN 28-BTNMT:2010, cột B trước khi xả ra môi trường.

1.1. Đặc điểm nguồn nước thải bệnh viện

Nước thải bệnh viện đa khoa Long An phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau. Bao gồm nước thải từ khu khám bệnh, phòng phẫu thuật, phòng xét nghiệm và khu điều trị. Thành phần ô nhiễm chính gồm chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, vi khuẩn, virus gây bệnh. Chỉ tiêu BOD5 trung bình đạt 150 mg/l, COD khoảng 200 mg/l. Hàm lượng Coliform có thể lên đến 10^6 - 10^7 MPN/100ml. Ngoài ra còn chứa dư lượng thuốc kháng sinh, hóa chất tẩy rửa và chất phóng xạ từ chẩn đoán hình ảnh.

1.2. Mục tiêu và yêu cầu xử lý nước thải

Mục tiêu chính của hệ thống xử lý nước thải bệnh viện là loại bỏ các chất ô nhiễm đạt quy chuẩn môi trường. Nước thải sau xử lý phải đạt QCVN 28-BTNMT:2010, cột B. Các chỉ tiêu cần đảm bảo gồm: pH từ 5-9, BOD5 nhỏ hơn 50 mg/l, COD nhỏ hơn 100 mg/l, tổng N nhỏ hơn 40 mg/l, tổng Coliform nhỏ hơn 5000 MPN/100ml. Hệ thống cần vận hành ổn định 24/7, dễ bảo trì và tiết kiệm chi phí vận hành hàng ngày.

II. Phân tích tính chất và vấn đề ô nhiễm nước thải bệnh viện

Nước thải bệnh viện đa khoa Long An có tính chất đặc thù so với nước thải sinh hoạt thông thường. Nguồn ô nhiễm chính phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh, xét nghiệm, phẫu thuật và giặt tẩy. Các chỉ tiêu ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với nước thải đô thị. BOD5 dao động từ 120-200 mg/l, COD từ 150-250 mg/l. Hàm lượng cặn lơ lửng SS trung bình 160 mg/l, có thời điểm đạt 220 mg/l. Nguy cơ ô nhiễm vi sinh rất nghiêm trọng. Coliform trong nước thải bệnh viện có thể đạt 10^9 MPN/100ml. Các vi khuẩn gây bệnh như Salmonella, E.coli, virus viêm gan B, HIV tồn tại trong nước thải. Nếu không xử lý đúng cách, nguồn nước ô nhiễm sẽ lan truyền dịch bệnh cho cộng đồng dân cư xung quanh. Bệnh viện truyền nhiễm và bệnh viện lao là mối nguy hiểm lớn nhất. Nước thải chưa được khử trùng triệt để đi vào nguồn nước ngầm và nước mặt gây ô nhiễm nghiêm trọng. Ngoài ra, dư lượng hóa chất dược phẩm, kháng sinh cũng là vấn đề cần giải quyết.

2.1. Thành phần và nồng độ các chất ô nhiễm chính

Phân tích mẫu nước thải bệnh viện cho thấy các chỉ tiêu ô nhiễm vượt quy chuẩn nhiều lần. BOD5 trung bình 150 mg/l, vượt 3 lần so với giới hạn cho phép. COD trung bình 200 mg/l, cao gấp đôi quy chuẩn. Tổng Nitơ trung bình 28 mg/l, tổng Phospho khoảng 5 mg/l. Các chất này gây phú dưỡng nguồn nước nhận. Hàm lượng cặn lơ lửng SS trung bình 160 mg/l, ảnh hưởng đến độ trong suốt và sinh thái thủy vực. Coliform phân nhóm đạt 10^6 - 10^7 MPN/100ml, tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh lớn.

2.2. Nguy cơ ô nhiễm môi trường và sức khỏe cộng đồng

Nước thải bệnh viện xả trực tiếp ra môi trường gây hậu quả nghiêm trọng. Các vi khuẩn, virus gây bệnh tồn tại lâu trong nước, đất và thực phẩm. Người dân sử dụng nguồn nước ô nhiễm dễ mắc các bệnh đường tiêu hóa, da liễu và truyền nhiễm. Qua nhiều nghiên cứu thực tế, các trường hợp nhiễm bệnh đều liên quan đến nguồn nước thải chưa xử lý. Đặc biệt nguy hiểm với bệnh viện truyền nhiễm, bệnh viện lao. Ô nhiễm nước thải còn ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy vực, làm chết cá và các sinh vật dưới nước.

III. Phương pháp và công nghệ xử lý nước thải bệnh viện Long An

Đồ án thiết kế trạm xử lý nước thải bệnh viện đa khoa Long An áp dụng quy trình công nghệ kết hợp nhiều phương pháp. Công nghệ lựa chọn là hệ thống SBR kết hợp xử lý hóa lý và sinh học. Quy trình bao gồm các bước: thu gom, xử lý sơ cấp, xử lý sinh học và khử trùng. Giai đoạn xử lý sơ cấp sử dụng song chắn rác và bể tách dầu mỡ. Bể điều hòa giúp ổn định lưu lượng và nồng độ nước thải đầu vào. Công nghệ SBR được lựa chọn làm công đoạn xử lý sinh học chính. SBR hoạt động gián đoạn theo mẻ với năm giai đoạn: làm đầy, thổi khí, lắng tĩnh, xả nước sạch và xả bùn dư. Ưu điểm của SBR là không cần bể lắng thứ cấp. Các quá trình trộn nước thải với bùn, lắng cặn diễn ra gần điều kiện lý tưởng. Hiệu quả xử lý BOD đạt trên 90%, COD trên 85%. Nước thải sau xử lý sinh học được khử trùng bằng Chlorine trước khi xả ra nguồn tiếp nhận. Bùn dư được xử lý qua bể nén bùn và đưa đi xử lý theo quy định.

3.1. Quy trình công nghệ xử lý SBR cho bệnh viện

Công nghệ SBR là lựa chọn tối ưu cho xử lý nước thải bệnh viện công suất nhỏ và trung bình. Bể SBR hoạt động theo chu kỳ, mỗi chu kỳ kéo dài 6-8 giờ. Giai đoạn làm đầy nước thải mất 1-2 giờ, nước thải được trộn với bùn hoạt tính từ chu kỳ trước. Giai đoạn thổi khí diễn ra trong 2-4 giờ, các chất hữu cơ bị oxy hóa triệt để. Quá trình lắng tĩnh kéo dài 1-2 giờ, bùn lắng xuống đáy bể. Nước sạch được xả ra ở giai đoạn cuối. BOD nước thải sau xử lý thường thấp hơn 50 mg/l, hàm lượng cặn lơ lửng từ 10-45 mg/l.

3.2. Thiết kế bể khử trùng và xử lý bùn

Bể khử trùng là công đoạn cuối cùng trước khi nước thải xả ra môi trường. Khử trùng bằng Chlorine (NaClO) với liều lượng 5-10 mg/l, thời gian tiếp xúc 30 phút. Phương pháp này diệt khuẩn hiệu quả, giảm Coliform xuống dưới 5000 MPN/100ml. Bùn dư từ hệ thống SBR được đưa vào bể nén bùn. Bùn được nén tự nhiên trong 24 giờ, thể tích giảm đáng kể. Bùn nén được vận chuyển đến cơ sở xử lý chất thải nguy hại theo quy định. Nước rỉ từ bể nén bùn được đưa trở lại hệ thống xử lý.

IV. Kết luận và ứng dụng thiết kế trạm xử lý nước thải bệnh viện

Đồ án thiết kế trạm xử lý nước thải bệnh viện đa khoa Long An công suất 400m3/ngày đêm đạt được mục tiêu đề ra. Hệ thống xử lý SBR kết hợp khử trùng đảm bảo nước thải đạt quy chuẩn QCVN 28-BTNMT:2010, cột B. Hiệu quả xử lý BOD5 đạt trên 90%, COD trên 85%, Coliform giảm 99%. Công nghệ SBR có nhiều ưu điểm cho xử lý nước thải bệnh viện. Hệ thống vận hành tự động, dễ kiểm soát và bảo trì. Chi phí đầu tư và vận hành hợp lý so với các phương pháp khác. Không cần bể lắng thứ cấp giúp tiết kiệm diện tích và chi phí xây dựng. Thiết kế có thể áp dụng cho các bệnh viện tương tự về quy mô và tính chất nước thải. Các thông số thiết kế được tính toán chính xác dựa trên số liệu thực tế. Bản vẽ công nghệ, mặt bằng tổng thể và cao trình được thể hiện chi tiết. Đồ án là cơ sở tham khảo hữu ích cho các dự án xử lý nước thải bệnh viện trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

4.1. Hiệu quả xử lý và đánh giá kết quả

Kết quả thiết kế cho thấy hệ thống xử lý đạt hiệu quả cao. BOD5 nước thải đầu ra nhỏ hơn 30 mg/l, đạt quy chuẩn cho phép. COD đầu ra nhỏ hơn 80 mg/l, tổng N nhỏ hơn 15 mg/l, tổng P nhỏ hơn 2 mg/l. Coliform giảm từ 10^6 xuống dưới 5000 MPN/100ml sau khử trùng. Nước thải sau xử lý trong, không màu, không mùi. Các chỉ tiêu đều đạt QCVN 28-BTNMT:2010, cột B. Hệ thống vận hành ổn định, ít sự cố, chi phí vận hành khoảng 3.000-5.000 đồng/m3 nước thải.

4.2. Khả năng áp dụng và mở rộng

Công nghệ SBR được thiết kế trong đồ án có tính ứng dụng cao. Hệ thống phù hợp với bệnh viện có công suất từ 200-1000 m3/ngày đêm. Thiết kế modular giúp dễ dàng mở rộng khi nhu cầu tăng. Công nghệ này đặc biệt phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của Việt Nam. Chi phí đầu tư ban đầu khoảng 3-5 tỷ đồng, thời gian hoàn vốn 5-7 năm. Đồ án là tài liệu tham khảo giá trị cho các trường đại học và đơn vị tư vấn môi trường khi thiết kế hệ thống xử lý nước thải bệnh viện tương tự.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Đồ án tốt nghiệp thiết kế trạm xử lý nước thải bệnh viện đa khoa long an công suất 400m3 ngày đêm

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA LONG AN 1. Giới thiệu sơ lược BỆNH VIỆN ĐA KHOA LONG AN Địa chỉ: 211 Nguyễn Thông, phường 3, Thành Phố Tân An Mã số thuế: 1100152833 Bệnh viện đa khoa Long An với quy mô 900 giường bệnh và hơn 500 cán bộ công nhân viên, bo gồm: thạc sĩ, chuyên khoa cấp 1, Bác sĩ, Dược sĩ. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An 1. Nhiệm vụ của bệnh viện Đa khoa Long An Bệnh viện ĐKLA là bệnh viện đa khoa hạng II, là bệnh viện đầu ngành của tỉnh Long An, có các chức năng nhiệm vụ như sau: • Cấp cứu – Khám bệnh - Chữa bệnh: - Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ hoặc từ các Bệnh viện khác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú hoặc ngoại trú.

- Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo qui định của nhà nước. - Có trách nhiệm giải quyết hầu hết các bệnh tật trong tỉnh - Tổ chức khám giám định sức khỏe, giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa tỉnh, thành phố hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu. - Chuyển người bệnh lên tuyến trên khi bệnh viện không đủ kha năng giải quyết. • Đào tạo cán bộ y tế: SVTH: Ngô Thị Ngọc Oanh – MSSV: 15150109 5 Đồ án Tốt nghiệp Khóa 2015 GVHD: Th.S Nguyễn Ngọc Thiệp - Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế cho Trường trung cấp y tế Long An.

- Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên môn • Nghiên cứu khoa học về y học: - Tổ chức nghiên cứu khoa học cấp ngành , cấp Cơ Sở, chú trọng nghiên cứu về y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc. - Kết hợp với bệnh viện tuyến trên và các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để phát triển kỹ thuật của bệnh viện, nghiên cứu khoa học. • Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kĩ thuật - Lập kế hoạch và chỉ đạo tuyến dưới (Bệnh viện hạng III) thực hiện việc phát triển kỹ thuật chuyên môn. - Kết hợp với bệnh viện tuyến dưới thực hiện các chương trình về chăm sóc sức khỏe ban đầu trong địa bàn tỉnh • Phòng bệnh: Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thường xuyên thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch.

Hiện trạng môi trường tại bệnh viện đa khoa Long An. Môi trường nước Nguồn nước cấp đáp ứng nhu cầu sử dụng cho bệnh viện được cung cấp từ hẹ thống cấp nước thành phố. Nước thải của bệnh viện đa khoa Long An bao gồm các loại khác nhau như: - Nước mưa thu gom trên toàn bộ diện tích khuôn viên của bệnh viện. - Nước thải sinh hoạt của Cán bộ nhân viên trong bệnh viện, của bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân thăm nuôi bệnh.

- Nước thải phát sinh từ các hoạt động khám và điều trị bệnh. - Nước thải ra từ các công trình phụ trợ thiết bị phụ trợ như giải nhiệt máy phát điện, giải nhiệt cho máy điều hòa,. Chất thải rắn Bên cạnh những vấn đề ô nhiễm do nước thải, một vấn đề khác về môi trường rất đang quan tâm trong quá trình hoạt động của bệnh viện là chất thải rắn. Các chất thải rắn phát sinh trong púa trình hoạt động của bệnh viện có thể được xem là chất thải nguy hại cần có biện pháp quản lý thích hợp.

Chất thải rắn của bệnh viện chủ yếu là : - Chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh gồm: các loại bệnh phẩm vứt bỏ sau các ca phẫu thuật, bông băng, chăn màn, dụng cụ y khoa sau khi sử dụng (ống 6 SVTH: Ngô Thị Ngọc Oanh – MSSV: 15150109 Đồ án Tốt nghiệp Khóa 2015 GVHD: Th.S Nguyễn Ngọc Thiệp tiêm, kim tiêm, vỏ ống thuốc thủy tinh, chai lọ đựng thuốc,. Đây được đánh giá là chất có mức ô nhiễm cáo, chứa nhiều vi trùng gây bệnh, dễ gây tác động xấu đến môi trường và con người. - Rác sinh hoạt của CBNV bệnh viện và thân nhân bệnh nhân. - Bên cạnh đó còn gồm cả các loại cặn bùn sinh ra do quá trình xử lý nước thải, các tàn tro sinh ra sau mỗi hành trình vận hành lo đốt rác.

Môi trường không khí Trong quá trình hoạt động của bệnh viện, 2 nguồn chủ yếu có khả năng gây ô nhiễm môi trường không khí là: - Hoạt động của các phương tiện lưu thông trong khuôn viên bệnh viện. Tuy nhiên, lượng xe cộ cho phép lưu thông trong bệnh viện có giới hạn nên mức độ ô nhiễm cũng không đáng kể. - Khí thải từ các hoạt động sinh hoạt khác của con người: sản phẩm khi đốt phục vụ bữa ăn, bụi và khói thải do vận tải, khói thuốc lá. Nhìn chung vấn đề môi trường của bệnh viện chủ yếu là quan tâm về nước thải.

SVTH: Ngô Thị Ngọc Oanh – MSSV: 15150109 7 Đồ án Tốt nghiệp Khóa 2015 GVHD: Th.S Nguyễn Ngọc Thiệp CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI BỆNH VIỆN 2. Thực trạng nước thải bệnh viện ở Việt Nam Theo kết quả khảo sát trong thời gian 1997 – 2002 của trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ nước sạch và môi trường, định mức sử dụng nước tính trên giường bệnh nước ta như bảng sau: Bảng 2. Định mức sử dụng nước ước tính theo giường bệnh Đối tượng Số lượng/ ngày Nhu cầu tiêu thụ nước, lít/ ngày Số giường bệnh N 300 – 350 Số cán bộ công nhân viên (0,8 – 1,1)N 100 – 150 Người nhà bệnh nhân (0,9 – 1,3)N 50 – 70 Sinh viên thực tập, khách (0.7 – 1)N 20 -30 Tổng số nước dùng thực tế (3,4 – 4,4)N 470 – 600 Tính cả nhu cầu phát triển 650 - 950 (Nguồn: Trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ nước sạch và môi trường) Từ lượng nước sử dụng đó sinh ra nước thải. Thực tế hiện nay lượng nước sử dụng trường đô thị và khu công nghiệp từ năm 1992 đến năm 1998, của Bộ môn cấp thoát nước- môi trường nước thuộc trường Đại Học Xayy Dựng Hà Nội trong 2 năm 1996-1997 và của Ban chỉ đạo quốc gia về cung cấp nước sạch và bảo vệ môi trường năm 1998 đểu cho thấy lưu lượng nước thải các bệnh viện vượt quá công suất thiết kê nhiều lần.

Phần lớn lượng nước thải sau sử dụng đều xả vado hệ thống thoát nước. Lượng nước thực tế thải ra tính cho một giường bệnh trong một ngày đêm vượt tiêu chuẩn của các nước Đức, Nga, Mỹ và lớn hơn rất nhiều so với các tiêu chuẩn Việt Nam. Tiêu chuẩn dùng nước của một số bệnh viện do Chính Phủ Thụy Điển tài trợ xây dựng như bệnh viện Uông Bí là 2.500 l/giường bệnh. Ngày đem, Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em là 1.700l/giường bệnh.ngày đêm, của các bệnh viện quân đội và công an khoảng 1.0001l/giường bệnh.

Do đặc điểm chữa bệnh và nghiên cứu khác nhau, tiêu chuẩn nước cấp của các bệnh viện rất khác nhau. Nhìn chung, đối với các bệnh viện đa khoa cấp tỉnh, tiêu chuẩn cấp nước ở mức 600-800l/giường bệnh. Đối với các bệnh viện chuyên khoa hoặc các bệnh viện trung ương, lượng nước sử dụng tương đối cao (đến 1.ngày đêm) do nước sử dụng cho cả mục đích nghiên cứu đào tạo. Tại các bệnh viện chuyên khoa, tỉ số bác sĩ và nhân viên phục vụ trên một giường bệnh tương đối cao (1,2 – 1,4).

Số bệnh nhân điều trị nội trú 8 SVTH: Ngô Thị Ngọc Oanh – MSSV: 15150109 Đồ án Tốt nghiệp Khóa 2015 GVHD: Th.S Nguyễn Ngọc Thiệp cũng lớn hơn số giường bệnh theo thiết kế rất nhiều. Ngoài ra còn một nguyên nhân khác làm cho lượng nước thải tăng là tổn thất do thiếu ý thức của người nhà bệnh nhân khi sử dụng khu vệ sinh hoặc vòi nước công cộng. Theo tính toán của Bộ môn Cấp thoát nước – môi trường nước của trường Đại Học Xây Dựng Hà Nội, dựa trên cơ sở khảo sát một số bệnh viện, thì nhu cầu sử dụng nước tại các bệnh viện như sau: - Điều trị: 18% - Lau nhà: 15% - Bệnh nhân tắm: 10% - Giặt giũ: 18% - Nấu nước, thức ăn: 12% - Cán bộ công nhân viên sử dụng: 12% - Hao hụt tổn thất: 15% Như vậy ở nước ta, theo các nghiên cứu thì tiêu cuẩn thải nước bệnh viện từ 600 – 1000l/giường bệnh.ngày đêm phụ thuộc vào các loại và các cấp bệnh viện. Phần lớn các bệnh viện, phòng khám, cơ sở điều trị…đều nằm ở các khu đô thị.

Đây là nơi tập trung đông người, có lượng nước tiêu thụ lớn. Do đó, có thể thấy nước thải bệnh viện là một dạng của nước thải sinh hoạt đô thị. Trong nước thải chứa chủ yếu các chất hữu cơ và chất ô nhiễm nguồn gốc sinh hoạt của con người. Tuy nhiên, do nước sử dụng trong quá trình chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân nên về mặt vệ sinh và dịch tễ học, trong nước thải bệnh viện chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh và dễ lây lan.

Nguồn gốc nước thải bệnh viện Trong quá trình hoạt động của bệnh viện, nước thải sinh ra trong toàn bộ khuôn viên bệnh viện bao gồm các loại khác nhau với nguồn thải tương ứng như: - Sinh hoạt của bệnh nhân, người nuôi bệnh, cán bộ và công nhân viên của bệnh viện; - Pha chế thuốc; tẩy khuẩn; - Lau chùi phòng làm việc; - Nước thải từ các hoạt động khám và điều trị bệnh. Nhìn chung nước thải bệnh viện đặc trưng là chứa nhiều mầm bệnh đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm. Một số khu vực có mức độ nhiễm vi sinh gây bệnh, cặn lơ lửng, các chất hữu cơ rất cao như: - Nước thải do mổ: chứa máu và các bệnh phẩm,… - Nước thải khu xét nghiệm: chứa nhiều vi trùng gây bệnh khác nhau. SVTH: Ngô Thị Ngọc Oanh – MSSV: 15150109 9 Đồ án Tốt nghiệp Khóa 2015 GVHD: Th.S Nguyễn Ngọc Thiệp Giá trị BOD, COD, cặn ở khu này vượt quá nhiều lần chỉ tiêu cho phép.

Ngoài ra nước thải còn có khả năng nhiễm xạ từ các khu X – Quang, rửa phim. Việc XLNT bị nhiễm phóng xạ rất khó khăn và tốn kém (do chu kì phân hủy các chât phóng xạ khá lâu). Trong điều kiện hiện nay không đề cập đến việc xử lý loại nước thải này mà chỉ xử lỹ có tính chất sơ bộ trong toàn bộ dây chuyền XLNT của bệnh viện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ