CHƯƠNG 1. Đặc điểm thực vật và phân bố của đương quy (Angelica sinensis Oliv.) Đương quy (Angelica sinensis Oliv.) là một cây thân thảo lâu năm, được trồng chủ yếu vùng Tây Bắc, Trung Quốc. Rễ của nó là một trong những loại thuốc thô quan trọng nhất trong y học cổ truyền Trung Quốc và được sử dụng như một chất bổ, tạo máu, tăng cường lưu thông máu để điều trị rối loạn kinh nguyệt [3, 4]. Ở Việt Nam, cây đương quy (A.
sinensis) nhập trồng vào những năm 60, hiện nay được trồng nhiều ở Sapa (Lào Cai), Ngọc Lĩnh (Kontum) và Đà Lạt (Lâm Đồng). Phân loại khoa học chi tiết của cây đương quy (Angelica sinensis Oliv.) được đưa ra trong bảng 1. Phân loại khoa học Hệ thống phân loại Giới (regnum) Plantae Ngành (phylum) Tracheophyta Lớp (class) Magnoliopsida Bộ (ordo) Apiales Họ (familia) Apiaceae Chi (genus) Angelica Loài (species) A. sinensis Đương quy (Angelica sinensis Oliv.) sinh trưởng nhiều ở vùng có khí hậu ôn đới, mát mẻ, đặc biệt là vùng núi cao 2000 – 3000 m.
Chúng là cây thân thảo lớn, chiều cao từ 40 – 100 cm, sống lâu năm với thân cây có hình trụ, phân nhánh, nhiều rễ con, mọng nước, có mùi thơm nồng. Lá cây có hình mác dài màu xanh tía, có viến màng, xẻ lông 1 chim 3 lần, mọc so le, mép lá có viền răng cưa còn đầu lá nhọn như hình 1. Hoa của cây đương quy (A. sinensis) là hoa nhỏ có màu xanh trắng, chúng thường mọc thành chùm 10 – 40 hoa ở ngọn cây, quả dẹt, có màu tím nhạt.
Lá cây đương quy và rễ cây đương quy 1. Thành phần hoá học của đương quy (Angelica sinensis Oliv.) Những nghiên cứu trước đây đã cho thấy đương quy (A. sinensis) có nhiều thành phần hợp chất như: acid phenolic (acid chlorogenic và acid ferulic), flavonoid, polysaccharide và phthalide (ligustilide, 3-butenylphthalide) [2]. Z-ligustilide, Z-butylidenephthalide, polysaccharide và acid ferulic là những thành phần nổi bật về hoạt tính sinh học của đương quy (A.
Đặc biệt, acid ferulic, các hợp chất phthalide thường được sử dụng để theo dõi, kiểm soát chất lượng và nghiên cứu dược động học của cây này đem đến lợi ích về sức khoẻ đối với con người [5]. Các hợp chất phthalide Phthalide là hợp chất có chứa nhân gốc là phthalide và thành phần chính là ligustulide (E và Z). Chúng được tìm thấy nhiều trong đương quy (A. sinensis) và hầu như các chi Angelica.
Một số hợp chất phthalide đặc trưng có trong hình 1.3 [6] được sử dụng để kiểm soát chất lượng của đương quy (A. Những nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng hợp chất ligustilide là những thành phần hoạt tính được sử dụng chủ yếu để ức chế co bóp tử cung [7] và có tác dụng giảm đau [8], tác dụng chống viêm [9]. Phần lớn các hợp chất phthalide tương đối không phân cực, nên chúng thường được chiết xuất bằng các phương pháp liên quan đến dung môi không phân cực hoặc chưng cất hơi nước. Một số hợp chất phthalide có trong đương quy (A.
Một số hợp chất phthalide có trong đương quy (A. Các hợp chất acid phenolic Acid phenolic là một acid hữu cơ có chứa một hoặc nhiều nhóm hydroxyl (−OH) gắn với một vòng benzen. Cấu trúc phổ biến của chúng bao gồm một hoặc nhiều nhóm phenol gắn với một hoặc nhiều acid carboxylic. Acid ferulic là một hợp chất phenolic có hoạt tính chống oxy hoá, chống viêm, phòng ngừa hoá học đối với chất gây ung thư và được tìm thấy chủ yếu trong cây đương quy (A.
Tuy nhiên hàm lượng acid ferulic khác nhau tuỳ thuộc vào dung môi chiết xuất. Ngoài ra, các acid phenolic trong hình 1.4 của đương quy (A. sinensis) cũng chiếm ưu thế bao gồm: acid hydroxybenzoic (acid protocatechuic, acid vanillic) và acid hydroxycinnamic (acid caffeic, acid p-coumaric, acid cinnamic) [10]. Acid phthalic: R1 = R2 = H, R3 = COOH Acid caffeic: R1 = R2 = OH Acid protocatechuic: R1 = R2 = OH, R3 = H Acid ferulic: R1 = OMe, R2 = OH Acid vanillic: R1 = OMe, R2 = OH, R3 = H Acid p-coumaric: R1 = H, R2 = OH Acid trans-cinnamic: R1 = R2 = H Hình 1.
Một số hợp chất acid phenolic có trong đương quy (A. Các hợp chất flavonoid Flavonoid là một dẫn xuất thứ cấp của benzo-γ-pyrone bao gồm các vòng phenolic kết hợp với pyrane và được phân loại theo chất thay thế [11]. Các hợp chất flavonoid có chung bộ khung cơ bản, hạt nhân flavan, bao gồm hai vòng thơm với sáu nguyên tử carbon (vòng A và B) liên kết với nhau bằng một chu trình dị thể gồm ba nguyên tử carbon (vòng C) được mô tả trong hình 1. Flavonoid là nhóm chất phytochemical, có nguồn gốc từ thực vật chịu trách nhiệm tạo ra màu sắc khác nhau cho các bộ phận 5 của cây như sắc thái màu vàng, cam và đỏ.
Ngoài ra, chúng có đặc tính sinh hoá và dược lý có lợi, chủ yếu có trong thực phẩm có nguồn gốc thực vật chẳng hạn như trái cây, rau, trà, thảo mộc [13]. Khung cơ bản của hợp chất flavonoid Qua những nghiên cứu trước đây, họ đã tìm ra các hợp chất flavonoid có trong 2 giống đương quy (A. sinensis) được thể hiện trong bảng 1. Một số hợp chất flavonoid có trong đương quy (A.
sinensis) STT Tên hợp chất Công thức 1 Quercetin-3-O-(6-O-arabinosyl) glucoside (19) C26H28O16 2 Quercetin-3-O-arabinoside (Guaijaverin) (20) C20H18O11 3 Quercetin-3-O-apiosyl(1→2)galactoside (21) C26H28O16 4 Quercetin-3-O-sambubioside (22) C26H28O16 5 Quercetin-3-O-xyloside (Reynoutrin) (23) C20H18O11 6 Quercetin-3-O-rhamnoside (Quercitrin) (24) C21H20O11 7 Quercetin-7-O-rutinoside (25) C27H30O16 8 Quercetin-4-O-glucoside (Spiraeoside) (26) C21H20O12 9 Quercetin-3-O-galactoside (Hyperin) (27) C21H20O12 10 Quercetin-3-O-glucoside (Isoquercitrin) (28) C21H20O12 11 Quercetin-7-O-glucoside (29) C21H20O12 6 Bảng 1. Một số hợp chất flavonoid có trong đương quy (A. Các hợp chất polysaccharide Polysaccharide là thành phần có trong đương quy (A. sinensis) được sử dụng chủ yếu để điều trị bệnh thiếu máu, rối loạn phụ khoa và bệnh gan [1].
Các đặc tính vật lý, hoá học và cấu trúc của một polysaccharide được xác định bởi nhiều yếu tố, bao gồm trọng lượng phân tử, thành phần monosaccharide, thứ tự các monosaccharide, cấu hình và vị trí của các liên kết glycosidic, loại và bậc độ polymer hoá của các nhánh, cấu hình không gian, kích thước của hạt, tính tan, tính chất đàn hồi và độ nhớt [15]. Cho đến thời điểm hiện tại, có khoảng 36 hợp chất polysaccharide được xác định từ rễ đương quy (A. Các báo cáo khoa học đã ghi nhận hầu hết các polysaccharide được phân lập từ 7 đương quy (A. sinensis) là các polysaccharide dị thể.
Các đơn vị tạo thành chúng bao gồm fucose (Fuc), galactose (Gal), glucose (Glc), arabinose (Ara), rhamnose (Rha), mannose (Man), xylose (Xyl), galacturonic acid (GalA) và glucuronic acid (GlcA) [16]. Một số hợp chất polysaccharide được phân lập từ rễ đương quy (A. sinensis) thể hiện trong bảng 1. Một số hợp chất polysaccharide có trong đương quy (A.
sinensis) STT Tên hợp chất Thành phần monosaccharde 1 As-IIIa (45) Glc 2 As-IIIb (46) Glc, Man, Ara (10,0:10,0:4,0) 3 X-C-3-II (47) Glc, Gal, Ara, Rha, GalA (56,0:22,1:18,9:1,9:1,1) Gal, Ara, Rha, GlcA, GalA 4 X-C-3-III (48) (24,3:15,8:4,2:3,1:52,6) Gal, Ara, Rha, GlcA, GalA 5 X-C-3-IV (49) (12,6:10,7:7,2:8,3:61,2) 6 XC-1 (50) Glc Fuc, Gal, Glc, Ara, Rha, Xyl 7 A. sinensis polysaccharide (51) (1,0:13,6:15,0:8,7:21,3:3,7) 8 ASP1 (51) GalA, Ara, Glc, Gal (5,35:9,15:65,00:3,66) GalA, Rha, Ara, Man, Glc, 9 ASP2 (52) (35,38:1,11:16,31:0,89:26,96:15,75) GalA, Rha, Ara, Man, Glc, Gal 10 ASP3 (53) (58,27:1,87:10,50:0,37:0,94:24,93) Rha, GalA, Glc, Gal, Ara 11 APF1 (54) (1,00:2,65:2,02:3,45:10,64) Man, Rha, GalA, Glc, Gal, Ara 12 APF2 (55) (0,44:1,00:10,52:7,52:8,19:14,43) Man, Rha, GlcA, GalA, Glc, Gal, Ara 13 APF3 (56) (0,74:1,00:0,25:9,06:8,62:5,94:9,28) 14 W-ASP11 (57) Ara, Glc, Gal (0,5:26,0:0,6) 15 W-ASP12 (58) Ara, Man, Glc, Gal (21,1:1,6:16,3:1,3) 16 W-ASP-2 (59) Rha, Ara, Man, Glc, Gal (1,0:14,7:0,8:24,3:14,2) 17 W-ASP-3 (60) Rha, Ara, Man, Glc, Gal (1,0:5,6:0,2:0,5:13,3) 8 Bảng 1. Một số hợp chất polysaccharide có trong đương quy (A. Hoạt tính sinh học của đương quy (Angelica sinensis Oliv.) Các loại thảo dược là một khía cạnh quan trọng của y học cổ truyền, đồng thời cung cấp các loại hoá chất cần thiết.
Trong số các dược liệu, đương quy (A. sinensis) được sử dụng rất phổ biến trong y học [17]. Các nhà thảo dược Trung Quốc đã tìm ra những lợi ích của đương quy (A. sinensis) rất nhiều đối với sức khoẻ con người.
Nó được sử dụng chủ yếu để điều trị các vấn đề y khoa liên quan đến phụ nữ, thiếu máu, bệnh tim mạch… Một số chiết xuất hoặc các hợp chất từ đương quy (A. sinensis) giúp tăng lưu lượng máu đến cơ tim, giảm tổn thương từ tia xạ và cải thiện chức năng thận. Polysaccharide, thành phần chính của cây này, được chứng minh bảo vệ đường ruột và gan khỏi tổn thương, hỗ trợ miễn dịch đồng thời tạo máu [18]. Do đó, các thành phần hoá học đa dạng từ cây này có các hoạt động dược lý mang lại nhiều công dụng đối với sức khoẻ con người.
Hoạt động hỗ trợ miễn dịch và tạo máu Thiếu máu là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng phổ biến, đặc biệt là ở phụ nữ. Trong số các loại thảo dược được sử dụng cho các bệnh liên quan đến huyết học thì đương quy (A. sinensis) là một loại thuốc thảo dược từ Trung Quốc thường được sử dụng để bổ sung máu và điều trị rối loạn kinh nguyệt, bệnh liên quan đến phụ khoa và các bệnh khác của phụ nữ [19]. Tạo máu là quá trình tế bào gốc tạo máu hoặc tế bào tiền thân trong tuỷ xương chuyển thành tế bào máu trưởng thành bằng cách điều hoà thông qua việc tiết ra nhiều yếu tố tăng trưởng máu.
Để xác định đương quy (A. sinensis) có hoạt động tạo máu và các thành phần chịu trách nhiệm cho hoạt động tạo máu, các nhà nghiên cứu đã nuôi cấy các thành phần lên tế bào tuỷ xương của chuột lần lượt là PBS – SCM (nhóm đối chứng), AS – SCM, ASPS – SCM và hoạt động tạo máu được ước tính bằng xét nghiệm hình thành khuẩn lạc CFU – GM thì khả năng hình thành khuẩn lạc GM của tế bào tuỷ xương chuột tăng lên đáng kể khi tăng nồng độ AS – SCM và ASPS – SCM so với nhóm đối chứng [20]. Chính vì vậy, polysaccharide đã được xác định là phần chính chịu trách nhiệm về công dụng tạo máu của đương quy (A. Tác dụng chống ung thư Ung thư là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, căn bệnh này đe doạ nhân loại qua nhiều thế kỷ.
Mặc dù hiện nay, hiệu quả của các phương pháp điều trị ung thư theo y học phương Tây bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hoá trị đối với phần lớn các loại ung thư đã được cải thiện nhưng việc tạo ra những tác dụng phụ vẫn còn là vấn đề chưa thể giải quyết [22]. Vì vậy, gần đây một vài sự chú ý đã chuyển qua việc áp dụng thuốc đông y để chống ung thư. Để kiểm tra tác dụng chống ung thư từ đương quy (A.